đặt vấn đề hoặc giải quyết vấn đề của người nghiên cứu hoặc do các điều. kiện không tốt của các công cụ hỗ trợ. Tuy nhiên, trong NCKH thất bại đó cũng là một kết quả, kết quả này cũng cần được tổng kết để những nhà nghiên cứu về sau khỏi lãng phí nguồn lực. - Tính kế thừa: Thê hiện ở việc một NCKH thường kế thừa các kết quả nghiên cứu của những người đi trước ở cả các lĩnh vực gần xa.
Trong thực tế, khi bắt đầu tìm kiếm và xác định đề tài nghiên cứu, bao giờ nhà nghiên cứu cũng tìm kiếm các thông tin, những công bố khoa học liên quan đến vấn đề đang dự định nghiên cứu. Việc kế thừa thành quả nghiên cứu vừa giúp cho các nhà nghiên cứu vừa tiết kiệm thời gian tiền bạc, vừa giúp có được nguồn thông tin tham khảo đảm bảo độ tin cây đồng thời tránh được việc thực hiện những nghiên cứu trùng lặp 10 Chính vì vậy NCKH luôn có tính kế thừa. - Tính cá nhân: Thể hiện ở chỗ trong NCKH vai trò của cá nhân mang tính quyết định cho dù công trình có do một tập thể thực hiện. Tính cá nhân thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân.
- Tính phỉ kinh tế: Thê hiện ở chỗ lao động NCKH rất khó định mức một cách chính xác như trong sản xuất vật chắ Có những nghiên cứu đòi hỏi máy móc đặc biệt, thiết bị đắt tiền, nhưng nó chỉ sử dụng cho NCKH và trong một giai đoạn nhất định, cho nên sự khấu hao đối với các công cụ này là điều khó thực hiện. Mặt khác, lao động trong NCKH là một lao động đặc biệt, tiền hành trong một thời gian dài, tốn nhiều công sức nhưng lại không thể đo lường, định mức được như những. lao động khác (có thể tính toán khối lượng công việc hoặc tính lượng sản phẩm). Vì vậy, khó có thể đạt được hiệu quả kinh tế trong các NCKH.
Ngay cả khi kết quả nghiên cứu có thể mang lại giá trị kinh tế nhưng đôi khi không thu được lợi nhuận do không áp dụng được trong xã hội hiện tại. Vì thế, tính phi kinh tế được xem là một đặc trưng của NCKH. ‘Tom lai, hoạt động NCKH chính là các hoạt động được thông qua việc chủ trì thực hiện các chương trình, dự án, đề tài NCKH các cấp; các hoạt động phát triển công nghệ; thực hiện các hợp đồng KH-CN; hoạt động viết giáo trình, sách tham khảo, sách chuyên khảo,. Đặc trưng đầu tiên của hoạt động NCKH là kết quả nghiên cứu phải mang lại điều gì mới mẻ và phải có tính kế thừa.
Để phát huy hiệu quả của hoạt động NCKH và tăng cường tính thông tin, phải công bố các kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học, báo cáo tại các hội thảo khoa học trong và ngoài nước đề có thê áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, phát huy tính kế thừa và các cấp đễ dàng thực hiện quản lý hoạt động NCKH. Quần lý Theo tir điển Bách khoa Việt Nam, “Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tô chức thuộc các giới khác nhau, bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ồn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và I mục tiêu của hệ thống đó.” Theo Đặng Quốc Bảo thì: “Hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng thái ôn định, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới và đưa tổ chức phát triển”: Nhu vậy quản lý chính là hoạt động tạo ra sự ôn định và thúc đây sự phát triển của tô chức đến một trạng thái mới có chất lượng cao hơn Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác; là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lực sẵn có đề đạt được các mục tiêu của tô chức. Như vậy chức năng cơ bản của quản lý là: Lập kế hoạch, tô chức, lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp. và kiểm tra.
~ Kế hoạch hóa là hoạch định các công việc cin thực hiện một cách chủ động và khoa học. Kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên, giúp trù liệu cho việc thực hiện đạt kết quả tốt. Kế hoạch hóa là chức năng quan trọng nhất của việc lãnh đạo, soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý quan trọng nhất. Kế hoạch hóa bao.
gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý và bị quản lý trong nhà trường, - Chức năng tổ chức: Là chức năng nhà quản lý thực hiện sau khi hoàn thành việc lập kế hoạch. Đây quá trình hình thành các cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận trong một tổ chức để phối hợp thực hiện thành công kế hoạch, đạt được mục tiêu tông thê của tổ chức. Đây là chức năng phát huy vai trò, nhiệm vụ, sự vận hành và sức mạnh của tô chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của quản lý. - Chức năng chỉ đạo: Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý.
Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển, chỉ đạo cho hệ thống hoạt động theo đúng kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Người điều khiển hệ thống phải là người có tri thức, có kĩ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. Quyết định là công cụ chính để điều khiển hệ thống. Ra quyết định là quá trình 12 xác định vấn đề và lựa chọn một phương án tối ưu trong số những phương án khác.
Việc ra quyết định quyết định xuyên suốt trong quá trình quản lý, từ việc lập kế hoạch, xây dựng tô chức cho đến việc kiểm tra, đánh giá. ~ Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của mọi cắp quản lý. Kiểm tra là hoạt động nhằm thấm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định. Kiểm tra là một quá trình thường xuyên đề phát hiện sai phạm, uốn nắn, giáo dục và ngăn chặn, xử lí.
Mục đích của kiểm tra là xem xét hoạt động của cá nhân và tập thể có phù hợp với nhiệm vụ hay không và tìm ra ưu nhược điểm, nguyên nhân. Qua kiểm tra người quản lý cũng thấy được sự phù hợp giữa thực tế, nguồn lực và thời gian, phát hiện những nhân tố mới, những vấn đề đặt ra. Quản lý hoạt động NCKH Từ các khái niệm trên, quản lý NCKH được hiểu: Quản lý NCKH là bộ phận của quản lý quá trình đào tạo ở trường đại học, cao đẳng bao gồm tập hợp các biện pháp của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm tăng cường các tác động tích cực của việc nghiên cứu đến việc dạy của giảng viên và việc học của sinh viên nhằm đẩy mạnh hoạt động NCKH của nhà trường. Quản lý NCKH là một bộ phận của Quản lý giáo dục nói chung, một nội dung của công tác quản lý nhà trường ở bậc Đại học và Cao đẳng.
Qua tìm hiểu phân tích các khái niệm khái niệm như trên có thể hiểu rằng, quản lý NCKH chính là xác định mục tiêu, cấu trúc của hệ thống NCKH và tác động vào các thành tố cấu trúc sao cho hệ thống đạt được mục tiêu NCKH đã đề ra. Quản lý hoạt động NCKH cũng có những đặc tính, chức năng của hoạt động quản lý nói chung. Trong quản lý hoạt động NCKH, chủ thể quản lý chính là các đơn vị quản lý khoa học, các cơ quan, trường học,. tác động lên các đối tượng.
quản lý chính là các nhà khoa học, các GV bằng các chương trình, kế hoạch, điều phối, can thiệp, huy động, giúp đỡ, điều chỉnh, kiểm tra nhằm đạt được những 13 mục đích của tổ chức. HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẢNG, ĐẠI HỌC TRONG BOI CANH DOI MOI GD&DT 1. Tầm quan trọng của NCKH đối với GV Theo Thông tư số: 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31/12/2014 về việc Quy định chế độ làm việc của giảng viên nêu rõ “Giảng viên phải dành ít nhất 1⁄3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học để làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học”. Điều đó khẳng định rằng, hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ chính của giảng viên nói riêng và của nhà trường nói chung.
Đối với giảng viên tại trường đại học, cao đẳng, công tác giảng dạy luôn được coi trọng là yếu tố then chốt, là công việc chính của người giảng viên. Tuy nhi đây mới chỉ là một phần yêu cầu của hoạt động chuyên môn của người giảng viên, ngoài nhiệm vụ giảng dạy người giảng viên còn phải thường xuyên học tập, bồi dường kiến thức và đặc biệt là phải tham gia nghiên cứu khoa học. Vì vậy, việc NCKH luôn được các trường đẻ cao, chú trọng, đặt ra như một nhiệm vụ bắt buộc, thường xuyên và là một tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu để đánh giá năng lực toàn diện của giảng viên. Nói một cách chung nhất, giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng có hai chức năng quan trọng, có tính chất cơ bản, đó là: Giảng dạy và NCKH.
Thực tiễn và lý luận đều chứng minh một cách rõ ràng rằng, NCKH và giảng dạy có mối quan hệ biện chứng với nhau, gắn kết chặt chẽ với nhau và hỗ trợ cho nhau. NCKH tạo cơ sở, điều kiện, tiền đề nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy ở trên lớp. Ngược lại, công tác giảng dạy phản ánh kết quả của hoạt động NCKH. Do vậy, có thể khẳng định rằng, cùng với hoạt động giảng dạy, NCKH là một công cụ để đánh giá năng lực chuyên môn của giảng viên.
NCKH sẽ góp phần phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, khả năng làm việc độc lập, trau dồi tri thức và các phương pháp nhận thức khoa học của GV, đồng thời hình thành ở GV những phẩm chat của nhà nghiên cứu. NCKH còn giúp giảng viên có điều kiện đi sâu hon, nắm bắt chặt chẽ hơn kiến 14 thức chuyên môn mà mình đang trực tiếp giảng dạy, kịp thời điều chinh, bổ sung. những nội dung kiến thức chưa chuẩn xác trong bài giảng của mình. Một mặt khi tham gia NCKH GV vừa củng cố lại kiến thức chuyên môn của mình, mặt khác vừa có điều kiện mở rộng, hiểu biết nhiều hơn những kiến thức từ các chuyên ngành khác.