Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THYC TIEN CUA VIEC DAY HQC LAM VAN NLXH THEO DINH HUONG PHAT TRIEN NANG LỰC CHO HỌC SINH THPT 1. Khải niệm ‘Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt, “nghị luận” là dùng lí luận để phân tích ý nghĩa phải trái, bản bạc, mở rộng vấn đề. Còn *xã hội” trước hết là một tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan hệ khác. “Cũng có thể hiểu "xã hội” là những gì thuộc về quan hệ giữa người và người vẻ các mặt đạo đức, chính trị, kinh tế, triết học, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ.Từ đó có thể higu, NLXH la thể văn hướng tới phân tích, bản bạc về các vấn đề liên quan đến các.
mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội. Mục đích cuối cùng của nó là tạo. ra những tác động tích cực đến con người và những mồi quan hệ giữa người với người trong xã hội. “Trên tỉnh thân ý nghĩa ấy, khái niệm NI.XH đã được nhiều tác giả đề cập.
Tuy nhiên để có một cái nhìn phủ hợp với quan niệm của SGK vẻ văn NLXH, chúng tôi cũng tán thành quan niệm của nhóm tác giá Dỗ Hữu Châu - Nguyễn Xuân Nam, Cao Dức Tiến: “Để hiểu thể nào là NI.XH cẳn phải hiểu thể nào là vấn. Hiểu một cách chung nhất về ấn đẻ xã hội là vấn đề thuộc nhi. mối quan hệ, nhiều loại hình hoạt động của con người trên mọi lĩnh vực trong đời ng xã hội như chính trị, văn hóa, học thuật, đạo đức, môi trường. NLXH chính là ban bạc các vấn để đó.
Trong NLXH, người nói, người viết đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề xã hội nào đó và thông qua cách thức bản luận cho người nghe, người đọc hiểu, tin, ding tình với những ý kiến và hành động theo hướng mình để xuất”. Yếu tỔ tạo nên nội dung bài vin NLXH ~_ Yếu tố thứ nhất: tư tướng và các ý kiến về vấn đề xã hội 4 'Văn nghị luận thực chất là văn bản thuyết lí, phát biểu các nhận định, tư tưởng, suy nghĩ, quan điểm, thái độ, thuyết phục mọi người tin theo mà có thái độ, hành động đúng trước một vấn đẻ dat ra. Do đó, muốn làm văn NLXH tốt, người ta. phải có quan điểm, chủ kiến rõ rằng.
Đó là những quan điểm, tư tưởng có tỉnh tích cực, phải hướng tới giải quyết những vẫn để đặt ra trong đời sống thì mới có ý nghĩa. Quan điểm, tư tưởng về vấn để xã hội được thể hiện cụ thể thành các ý kiến. Là sản phẩm của tư duy lôgic cho nên các yếu tổ tạo nên nội dung củ văn nghị luận thường được gọi là các ý (hay ý kiến). Đó là những ý kiến của tác giả về vấn đề này, vấn đề kia hoặc là về chính các ý kiến của những người khác về ngay vấn đề đang, được để cập tới.
"Những ý kiến về các hiện tượng xã hội, về các vấn đề có ý nghĩa xã hội đã tạo nên nội dung của bai văn NI. Nếu yếu tổ tạo nên bài vấn miều tả là đặc điểm, bài văn tự sự là những tình tiết. thì yếu tổ tạo nên nội dung bai văn nghị luận không phải như vậy mà là các ý kiến. Dây là điểm khác biệt giữa văn nghị luận với các loại văn bản khác.
Nội dung cụ thể của ý trong từng bải văn nghị luận rất đa dạng và có những. vi trí, chức năng khác nhau. Tùy vị trí, chức năng ấy và mối quan hệ giữa các ý' trong toàn bộ bài văn mà chúng ta có thê phân ra thành: luận đề, luận điểm và luận. Luận để là ý kiến lớn bao trùm toàn bộ bài văn, đòi hỏi HS phải làm sáng rõ Trong nhà trường, luận để thường được cho trước dưới trong đề bài làm văn, dù đề.
bài đó thuộc loại đề mở hay đề khép, Còn luận điểm là những ý trực tiếp tạo thành luận để, chúng độc lập tương đối với nhau và cùng hướng về luận đề. Độc lập tương đối được hiểu là trong một bài văn, luận điểm này không trùng luận điểm kia, không ba ham luận điểm kia. Còn luận cứ là bậc ý nhỏ thuộc về từng luận điểm. biệt như vậy chỉ mang tính tương đối, phụ thuộc vào từng bài cụ thể.
Có thể trong bai này ý này là luân điểm, nhưng ở bài khác, tròng mỗi quan hệ với các ý khác thì Ý Ấy có thể lại chỉ là luận cứ mà thôi. ~_ Yếu tố thứ hai: lập luận "Nội dung bai văn nghị luận không phải là sự liệt kê tùy tiện cácý. Có luận điểm, luận cứ rồi cần phải biết tổ chức, trình bày chúng theo những mối quan hệ nhất định, sao cho các luận cứ làm nỗi bật luận điểm, và đến lượt mình, các luận điểm lại 15 phải phối hợp với nhau để làm rõ luận dé của bải văn. Đó chính là việc lập luận.
Có luận điểm mới mẻ, sâu sắc rồi, để tăng hiệu quả thuyết, người viết (nói) phải biết sắp xếp, biết đắt dẫn, biết xâu chuỗi các luận điểm ấy thành một thể thống nhất chặt chẽ, nghị là biết lập luận thì bài văn nghị luận mới có sức thuyết phục. Trong bai văn nghị luận, luận điểm là nội dung còn lập luận là cách trình bày, cách diễn đạt về nội dung Ấy. 'Việc lập luận trong văn nghị luận thường được thực hiện bằng một số thao tác như: phân tích— tổng hop, quy nạp — diễn dịch. Các thao tác này, một mặt là những, thao tác của lôgic, của tư duy nhằm tìm ra chân lí, tìm ra các ý kiến, mặt khác là các.
thao tác trình bày các ý trong bài văn nghị luận. Ta cần chú ý rằng. một bai văn có thể trình bày các ý theo cách quy nạp, mặc đủ các ý đó được tìm ra theo thao tác diễn Ngược lại, ta cũng có thể trình bảy theo lối diễn dịch những điều được. tim ra theo thao tác quy nạp.
Bên cạnh các thao tác trên, trong văn nghị luận chúng ta còn sử dụng các thao tác khác như: giải thích ~ chứng minh, bình luận. Đây là những thao tác nghỉ luận nhưng không thuộc các thao tác tư duy logic để tìm ra chân lí như những thao tác diễn dịch hay quy nạp. Các thao tác giải thích chứng minh, bình luận thuộc cách thức bàn luận của văn nghị luận. Bởi vì, nghị luận là nhằm thuyết phục người nghe, người đọc về nhận thức lí tính nên phải giải thích để họ hiểu ý kiến của mình, chứng mình để cho họ thấy ý kiến của mình là đúng, rồi lại phải bình luận cho họ thấy hết mọi giá trị có thể có trong ý kiến của mình.
Diễn dat trong van NLXH Diễn đạt trong bai làm văn là làm cho nội dung tư tướng, tỉnh cảm được tỏ rõ bằng ngôn ngữ hoặc hình thức nào đó. Năng lực diễn đạt là khá năng dùng câu chữ, ngôn từ, hình ảnh.để diễn tả những điều mình muốn bảy tỏ (tư tưởng, tình cảm, kiến thức, suy nghi. Năng lực diễn đạt gắn liễn với năng lực tư duy, phản ánh khả năng và trình độ tr duy. Phải có cái gì trong đầu rồi mới nói diễn đạt.
Bởi vậy, muốn có năng lực diễn đạt tốt phải có hai điều kiện: một là phải suy nghĩ nhiều, suy nghĩ một cách sáng sủa, mạch lạc. Hai là có đủ vốn ngôn ngữ để thể hiện một cách. chính xác, chặt chẽ, thuyết phục những suy nghĩ thằm kín ở trong đầu. 16 Diễn đạt trong văn NLXH không nằm ngoài các yêu cầu diễn đạt trong bài làm.
văn nói chung như: diễn đạt đúng (diễn đạt lưu loát, làm sáng rõ nội dung, không mắc lỗi từ ngữ, ngữ pháp, logic.) và diễn đạt hay (có nhiều c: ch diễn đạt độc đáo và sáng tạo trong viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ. Tuy nhiên, do đặc trưng của văn NLXH (là loại văn của tư duy logic) nên diễn đạt cũng, cần những yêu cầu đặc trưng ~_ Ngoài những yêu cầu tối thiểu của điển đạt chung như dùng từ chính xác, đặt câu văn đúng ngữ pháp, lời văn NLXH phải đám bảo tính chặt chẽ, chuẩn xác, nghĩa là "phải bày tö một cách trung thành, sáng tỏ, chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói” (Phạm Văn Đồng). Đây là yêu cầu đầu tiên và cơ bản, thể hiện đặc trưng của van NUXH, ~ Mặc đũ là loại văn của tư đuy logic, văn NL.XH cũng cẩn có tỉnh biểu cảm Người viết văn không chỉ thuyết phục bạn đọc bằng lí trí, mà còn thuyết phục họ cả vẻ tình cảm, Muỗn vậy phải biết diễn tả bằng lời văn có hình ảnh, có giọng điệu để bộc lộ lòng nhiệt tỉnh, tâm huyết của mình đối với vấn đẻ đang bàn luận. 'T$ Trần Đình Sử: *ăn nghị luận đả văn nỗi lí, nhưng xét cho Kũ, nó Không bao giờ chỉ thuận túy là nói lí, bởi trong lí có tình, tình cảm của người viết, tình cảm đối với người đọc, tình cảm đối với vẫn đê bàn luận.
Vi thể, văn nghị luận cũng có màu sắc. tu te, néu biết diễn đạt một cách có cảm xúc, hình ảnh nhất định sẽ tăng thêm hiệu quả thuyết phục cho bài văn”. [37; tr4] ~ Tuy vậy, cũng cần lưu ý, văn NLXH kị lối viết sáo rỗng, khoa trương; tối ki đánh giá cực đoan hoặc bảy tö một cách quá đáng thái độ của mình bằng những hình ảnh và từ cám thần trân lan Bởi vậy, để có một cái nhìn khái quát nhất về diễn đạt trong văn NLXH, phần. ghỉ nhớ SGK Ngữ văn 12 tập 1 néu các yêu cầu sau “Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc; có thể sử dụng một số phép tu từ và yếu tổ biểu cảm nhưng phải phù hợp và có chừng mực" [24:21] “Điễn đạt cẩn chuẩn xác, mạch lạc; có thể sử dụng một số phép tu từ và yếu tổ biểu cảm, nhất là phần nêu cảm nghĩ riêng " [24:61] 'Về cấu trúc bài văn NLXH, theo Trần Đình Sử: “Bài văn nghị luận hay không chỉ có luận điểm, có ý nghĩa, lập luận chặt chẽ, mà cỏn phải chủ ý bồ cục hợp Ui.
17 Bài văn thường có ba phần, mở bài, thân bài, kết bài. Hình dung ra bài văn như. một cuộc trỏ chuyện, một cuộc phát biểu ý kiển trước mọi người, thì nên có cách mở. bài thích hợp.
Trong mở bài, tìm cách đưa ngay vấn đề cẳn bàn và luận điểm chính cho người doc thay, sau dé phan thân bài lần lượt tình bày, giải quyết.