phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương. Chương l: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng ĐTN ở trường đại học. Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng ĐTN ngắn hạn tại Trường Đại học Trà Vinh. Chương 3: Các biện pháp quản lý chất lượng ĐTN ngắn hạn tại Trường Đại học Trà Vinh.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LÝ CHAT LUQNG DAO TAO NGHE Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. TONG QUAN NHUNG NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN ĐÈ TÀI Van dé chat lượng ĐTN từ trước đến nay, là một đề tài có tính thời sự, luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu khoa học đã đề cập đến những khó khăn, thuận lợi, những nỗ lực và sự chuyển biến tích cực của công tác ĐTN từ những hướng tiếp cận khác nhau. Ở Đức, các loại hình trường của giáo dục nghề nghiệp rất đa dạng, đặc biệt là các loại hình trường ĐTN hoặc giáo dục phổ thông kết hợp với ĐTN.
Trường chuyên nghiệp ở Đức bao gồm nhiều ngành học. Trong hệ thống giáo dục của Đức, vị trí người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp xếp ngang hàng vị trí người tốt nghiệp đại học, vì ưu thế họ đã có một số năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp hoặc là người có năng khiếu đặc biệt sau khi tốt nghiệp các loại hình trường nghề. Ở Úc không có một hệ thống chuyên nghiệp riêng, tách rời hệ thống dạy nghề như ở Việt Nam, mà gắn bó chung trong một hệ thống. giáo dục nghề nghiệp.
Trình độ đào tạo nguồn nhân lực từ sơ cấp đến tương đương Cao đẳng, tạo điều kiện cho người học có nhiều cơ hội học tập vì có thể chuyển đổi hệ thống một cách dễ dàng. Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1990, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước. và Chính phủ, sự nỗ lực của toàn Ngành, công tác ĐTN ở nước ta đã được phục hồi và từng bước phát triển. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vue ĐTN và chất lượng ĐTN được các nhà nghiên cứu giáo dục công bố như: “Giáo dục nghề nghiệp - những vấn đề và giải pháp tủa PGS.
Nguyễn Viết Sự (2005); “Đánh giá chất lượng đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp” của ThS. Nguyễn Đăng Trụ (2007); “Đổi mới hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề ở Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 của PGS. Đỗ Minh Cương; “Giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực” của PGS. TS Trần Khánh Đức (2002); “Một số bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đảo tạo.
nghề của nước ngoài” của PGS. Nguyễn Việt Sự và CN Nguyễn Thị Hoàng Yến (2008); “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO và TQM” của PGS. Trần Khánh Đức (2004). Ngày nay, vấn đề nhân lực đã trở thành yếu tố cơ bản, quyết định đối với sự phát triển KT - XH của mỗi địa phương.
Vì vậy, đòi hỏi cần có nguồn lực lao động đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến chất lượng nghề, chất lượng công tác ĐTN trong các năm qua và đưa ra những đẻ xuất, giải pháp nâng cao chất lượng ĐTN trong thời gian tới nhằm. phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Tuy nhiên, vấn đề về công tác quản lý chất lượng ĐTN của một cơ sở ĐTN ở trường đại học chưa được.
nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống đặc biệt là đối với Trường ĐHTV. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý chất lượng ĐTN ngắn hạn tại Trường Đại học Trà Vinh có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng ĐTN của Trường Đại học Trà Vinh. Thông qua nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển chất lượng đào tạo của nhà trường, góp phần phát triển KT ~ XH của địa phương. CÁC KHÁI NIỆM CO BAN CUA ĐÈ TÀI 1.
Quản lý, quản lý giáo dục a. Quản lý Quản lý là chức năng của các hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (hệ thống kỹ thuật, hệ thống sinh học, hệ thống xã hội) bảo toàn cơ cấu của chúng, duy trì một trạng thái xác định hay chuyển thành trạng thái khác một cách phù hợp với các qui luật khách quan của sự tồn tại, với việc thực hiện chương trình hay với mục đích đặt ra một cách có ý thức. Theo Từ điển quản lý xã hội, quản lý được thực hiện bằng con đường tác động của một tiểu hệ thống (quản lý) này đến một tiêu hệ thống khác (được quản lý), đến các quá trình diễn ra trong nó thông qua tín hiệu thông tin hay hoạt động quản lý [9] Theo khoa học quản lý của F. Taylor “Quan ly là nghệ thuật, biết rõ chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [8].
Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hop những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất [5]. Theo trường phái tâm lý “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, mà chủ yếu là vào những con người, nhằm. đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội xác định” [5] “Quan lý là khoa học và nghệ thuật, tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn các kiến thức về quản lý là một khoa học” [5].
Mỗi một đơn vị quản lý bao gồm: bộ phận quản lý và bộ phận bị quản lý. Bộ phận quản lý còn gọi là chủ thể quản lý, là một cá nhân, một tập thể hay một tổ chức được giao trách nhiệm quản lý đơn vị. Cá nhân được giao trách nhiệm quản lý gọi là thủ trưởng đơn vị. Bộ phận bị quản lý còn gọi là đối tượng quản lý.
Giữa quản lý và lãnh đạo có sự khác nhau nhất định. Lãnh đạo chủ yếu vạch ra đường lối chính trị hay phương hướng chỉ đạo. Còn quản lý chủ yếu là tác động vào đối tượng bị quản lý để thực hiện chính sách, kế hoạch đề ra. Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể QL nhằm tác động lên khách thé QL dé thực hiện các mục tiêu xác định của công tác QL.
Trong mỗi chu trình QL chủ thể tiến hành những hoạt động theo. 10 các chức năng QL như xác định mục tiêu, các chủ trương chính sách, hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện , kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực.để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh thời gian nhất định. Quản lý giáo dục Theo tác giả Trần Kiểm, “Khái niệm QLGD có nhiều cấp độ. Ít nhất có hai cắp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô.
~ Đối với cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục. của nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD. ~ Đối với cấp vi mô: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường” [14]. ‘Tac gia Pham Minh Hac cho ring, QLGD hay QL trường học là hệ thống.
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống GD vận hành theo đường lối và nguyên tắc GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm là hội tụ quá trình dạy học, đưa hệ thống GD đến mục tiêu dự kiến, tiến đến trạng thái mới về chất. Quản lý GD còn được hiểu là tập hợp những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống nhà trường, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng cả về số lượng lẫn chất lượng của hệ thống nhà trường. 1I Từ những quan niệm đã nêu, trên bình diện tổng quát, có thể hiểu QLGD. là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật, của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu GD đề ra.
Nghề, đào tạo nghề, đào tạo nghề ngắn hạn a. Nghé Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định. Cho đến nay thuật ngữ “ngh” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn. Ở Pháp, khái niệm nghề được định nghĩa là một loại lao động có thói quen vẻ kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống.
Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó. Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống. nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mắt đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội.
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đảo tạo, con người có được những trỉ thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm. vật chất hay tỉnh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động.