Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu tầng đất yếu dày từ 15 m đến 35 m, tạo nên thách thức kỹ thuật lớn cho các công trình hạ tầng thủy lợi và giao thông ven biển. Huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng có diện tích tự nhiên 691 km2 và dân số 229.000 người, nằm ở vị trí chịu tác động trực tiếp từ sông Hậu và Biển Đông. Địa bàn tiểu dự án khu bờ Tả sông Saintard bao quát quy mô 6.548 ha với hệ thống ô bao từ số 84 đến 92, trải dài qua 5 xã trọng điểm gồm Đại Ngãi, Hậu Thạnh, Phú Hữu, Trường Khánh, Châu Khánh cùng một phần thành phố Sóc Trăng. Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ nền địa chất đê bao chứa lớp bùn sét bão hòa nước dày với sức chịu tải cực thấp chỉ từ 0,5 kG/cm2 đến 1,0 kG/cm2 và hệ số rỗng ban đầu vượt quá 1,0. Dưới tác động của triều cường bán nhật không đều từ cửa sông Mỹ Thanh và lượng mưa ngày thiết kế đạt 114 mm, tuyến đê thường xuyên đối mặt nguy cơ sạt trượt sâu và biến dạng lún nứt nghiêm trọng. Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát đặc tính cơ lý đất nền, thiết lập cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp xử lý nền đất yếu tối ưu cả về kỹ thuật lẫn chi phí đầu tư. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào tuyến đê bao ngăn mặn bờ Tả sông Saintard với chuỗi số liệu khí tượng thủy văn đo đạc từ năm 1957 đến năm 2017 tại trạm Sóc Trăng. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc kiểm soát độ lún cố kết, nâng hệ số ổn định tổng thể Kmin đạt trên 1,40 theo tiêu chuẩn xây dựng hiện hành, khống chế tốc độ lún dưới 10 mm/ngày đêm và bảo vệ bền vững 6.548 ha đất sản xuất nông nghiệp trước hiểm họa xâm nhập mặn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết cố kết thấm một chiều của Terzaghi kết hợp mô hình thoát nước hướng tâm của Barron và Hansbo để tính toán quá trình tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng qua hệ thống bấc thấm thẳng đứng PVD. Ổn định mái dốc và mặt trượt sâu của nền đê được đánh giá thông qua phương pháp cân bằng giới hạn cải biên Bishop và phương pháp phân mảnh cổ điển Fellenius theo tiêu chuẩn thiết kế 22 TCN 262-2000. Các khái niệm địa kỹ thuật trọng tâm bao gồm: sức kháng cắt không thoát nước với chỉ số Su nhỏ hơn 25 kPa, hệ số nén lún a lớn hơn 0,1 cm2/kG, hệ số rỗng ban đầu e0 vượt ngưỡng 1,5 và độ sệt B lớn hơn 1,0 phản ánh trạng thái bùn sét chảy. Bên cạnh đó, đề tài tích hợp nguyên lý chịu kéo của vải địa kỹ thuật dệt có cường độ kháng kéo danh định trên 100 kN/m nhằm tăng khả năng chống trượt trồi đáy móng, kết hợp cơ chế phân bố ứng suất của lớp đệm cát dày từ 0,5 m đến 1,0 m với góc truyền lực dao động từ 30 độ đến 45 độ.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu đầu vào của nghiên cứu được thu thập từ kết quả khảo sát địa chất công trình gồm 342 mẫu đất thí nghiệm cơ lý tại hiện trường và trong phòng, trong đó có 142 mẫu bùn sét thuộc phân vị địa tầng amQIV và 76 mẫu sét loang lổ maQIII được lấy mẫu nguyên dạng bằng ống mẫu thành mỏng. Chuỗi số liệu khí tượng thủy văn được tổng hợp liên tục qua 60 năm tại trạm khí tượng Sóc Trăng (1957 - 2017) với lượng bốc hơi trung bình năm đạt 1.238 mm và nhiệt độ bình quân 26,8 độ C. Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng phương pháp số mô phỏng phần tử hữu hạn địa kỹ thuật hai chiều theo mô hình Mohr-Coulomb và Soft Soil. Lý do lựa chọn mô hình phần tử hữu hạn là khả năng mô phỏng chính xác ứng xử biến dạng phi tuyến của đất bùn sét bão hòa nước qua 7 giai đoạn đắp gia tải theo thời gian, giúp kiểm soát đồng thời sự gia tăng ứng suất hữu hiệu và tốc độ cố kết của nền đất sau khi cắm bấc thấm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả khảo sát địa chất chỉ ra địa tầng dọc tuyến đê tồn tại lớp bùn sét bồi tích dày từ 9 m đến 20 m (chiều dày trung bình 15 m) có độ ẩm tự nhiên cao từ 50% đến 65%, góc nội ma sát chỉ đạt từ 3 độ đến 6 độ và lực dính đơn vị C dao động từ 0,04 kG/cm2 đến 0,10 kG/cm2, dẫn đến sức chịu tải tiêu chuẩn dưới 0,5 kG/cm2. Thứ hai, phân tích mô hình số cho thấy nếu đắp đê trực tiếp không qua gia cố, hệ số an toàn ổn định trượt sâu chỉ đạt K = 0,92 (thấp hơn nhiều so với ngưỡng an toàn 1,40), độ lún tổng cộng vượt mức 1,45 m gây phá hoại trượt cung tròn ngay trong giai đoạn thi công. Thứ ba, việc ứng dụng giải pháp bấc thấm kết hợp đệm cát dày 0,5 m và trải vải địa kỹ thuật dệt chịu kéo trên 100 kN/m giúp rút ngắn thời gian cố kết đạt 80% chỉ trong 6 tháng, kiểm soát độ lún dư sau thi công dưới 0,15 m và nâng hệ số an toàn ổn định Kmin lên mức 1,42, tương đương mức tăng 54,3% về độ an toàn tổng thể.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả vượt trội của giải pháp bấc thấm kết hợp vải địa kỹ thuật xuất phát từ việc thu ngắn cự ly thoát nước lỗ rỗng từ 15 m theo phương thẳng đứng xuống còn bán kính ảnh hưởng 0,8 m đến 1,2 m theo phương ngang, làm tăng tốc độ cố kết nhanh gấp 8 đến 10 lần so với điều kiện tự nhiên. Vải địa kỹ thuật dệt tiếp thu lực kéo phát sinh tại mặt tiếp xúc giữa thân đê và nền đất yếu, triệt tiêu ứng suất cắt và phân bố đều tải trọng đắp. Khi so sánh với giải pháp cọc cừ tràm truyền thống (mật độ 16 đến 25 cọc/m2 chỉ hiệu quả với tầng đất dày dưới 3 m) và cọc đất gia cố xi măng (chi phí xử lý cao hơn khoảng 40%), phương án bấc thấm kết hợp đệm cát thể hiện tính kinh tế và tốc độ thi công cao với năng suất lắp đặt đạt 5.000 m bấc thấm/ngày/máy. Trong phân tích, dữ liệu biến dạng thẳng đứng và chuyển vị ngang được trực quan hóa qua biểu đồ quan hệ lún - thời gian và bảng tổng hợp phân bố ứng suất theo 7 giai đoạn đắp, giúp đơn vị thiết kế nhận diện rõ đới biến dạng dẻo tập trung ở chân khay đê để bố trí bệ phản áp hợp lý.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thi công bấc thấm PVD và đệm cát lọc: Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng cùng nhà thầu thi công triển khai cắm bấc thấm mạng lưới tam giác với khoảng cách từ 1,2 m đến 1,5 m, chiều sâu cắm từ 15 m đến 18 m xuyên qua hết tầng bùn sét; trải 1 lớp vải địa kỹ thuật dệt chịu kéo trên 100 kN/m và đệm cát hạt trung dày 50 cm; hoàn thành công tác xử lý nền trong thời gian 90 ngày đầu tiên.
  2. Phân kỳ đắp gia tải trước theo từng đợt: Đơn vị tư vấn thiết kế và nhà thầu xây lắp thực hiện đắp thân đê cao từ 2,5 m đến 3,2 m chia làm 3 đợt đắp phân lớp dày 0,3 m đến 0,5 m, duy trì thời gian chờ cố kết tối thiểu 45 ngày giữa các đợt để độ cố kết đạt trên 80% trước khi đắp tải giai đoạn kế tiếp; tổng tiến độ đắp hoàn thiện từ 6 đến 9 tháng.
  3. Thiết lập mạng lưới quan trắc biến dạng tự động: Đơn vị tư vấn giám sát bố trí hệ thống bàn đo lún tại tim đê và cọc mốc chuyển vị ngang hai bên chân mái đê với mật độ 50 m một mặt cắt, thực hiện đo đạc hàng ngày trong giai đoạn đắp và định kỳ 1 lần/tuần trong 60 ngày sau đắp; đảm bảo tốc độ lún tim đê dưới 10 mm/ngày đêm và chuyển vị ngang dưới 5 mm/ngày đêm.
  4. Ban hành quy chế quản lý tải trọng và bảo trì tuyến đê: Ủy ban nhân dân huyện Long Phú cùng Chi cục Thủy lợi thiết lập biển báo giới hạn tải trọng xe cơ giới dưới 5 tấn lưu thông trên mặt đê kết hợp đường giao thông trong 12 tháng đầu vận hành, đồng thời tiến hành bù lún đắp phụ mặt đê định kỳ 6 tháng một lần sau mùa mưa bão.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Kỹ sư thiết kế địa kỹ thuật và công trình thủy công: Vận dụng quy trình tính toán cố kết thấm PVD, thiết kế đệm cát phân cách và bố trí cốt vải địa kỹ thuật theo tiêu chuẩn 22 TCN 262-2000 cho các dự án đê bao, đường ven biển.
  2. Ban quản lý dự án và chủ đầu tư hạ tầng Đồng bằng sông Cửu Long: Sử dụng luận văn làm cơ sở kỹ thuật để so sánh, lựa chọn giải pháp nền móng tối ưu giữa cọc đất xi măng, cừ tràm và bấc thấm, giúp tiết kiệm từ 25% đến 35% tổng mức đầu tư xây lắp.
  3. Nhà thầu thi công nền móng và kỹ sư hiện trường: Nắm vững công nghệ vận hành thiết bị cắm bấc thấm năng suất 5.000 m/ngày, kỹ thuật trải vải địa kỹ thuật chống rách và quy trình kiểm soát tốc độ đắp gia tải an toàn.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Địa kỹ thuật: Khai thác bộ số liệu thực chứng gồm 342 chỉ tiêu cơ lý đất yếu ven biển Sóc Trăng cùng quy trình mô hình hóa tương tác đất - đê bao bằng phương pháp phần tử hữu hạn qua 7 giai đoạn thi công.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao giải pháp bấc thấm PVD lại ưu việt hơn cừ tràm truyền thống trong dự án này?
    Cọc cừ tràm chỉ phát huy hiệu quả khi gia cố nền đất yếu dày dưới 3 m đến 5 m với mật độ 16 đến 25 cọc/m2 trong môi trường ngập nước bão hòa. Với địa tầng bờ Tả sông Saintard có tầng bùn sét dày từ 9 m đến 20 m, bấc thấm PVD cắm sâu đến 18 m giúp tiêu thoát nước lỗ rỗng trên toàn bộ chiều sâu lớp đất yếu mà cọc tràm không thể xử lý tới.

  2. Hệ số an toàn ổn định trượt sâu của tuyến đê bao yêu cầu đạt giá trị bao nhiêu?
    Theo quy trình 22 TCN 262-2000, khi tính toán ổn định trượt sâu bằng phương pháp Bishop cải biên, hệ số ổn định nhỏ nhất Kmin phải đạt từ 1,40 trở lên đối với giai đoạn khai thác công trình lâu dài và đạt tối thiểu 1,20 cho từng giai đoạn đắp phân lớp gia tải trước trong quá trình thi công.

  3. Tốc độ đắp thân đê được khống chế dựa trên những tiêu chí quan trắc cụ thể nào?
    Quy trình kiểm soát thi công yêu cầu tốc độ lún tại trục tim đê không được vượt quá 10 mm/ngày đêm và tốc độ chuyển vị ngang của cọc mốc hai bên chân mái đê không vượt quá 5 mm/ngày đêm nhằm triệt tiêu nguy cơ trượt trồi đất nền tức thời.

  4. Lớp đệm cát và vải địa kỹ thuật dệt đóng vai trò gì khi kết hợp cùng bấc thấm?
    Vải địa kỹ thuật dệt chịu kéo trên 100 kN/m đóng vai trò cốt gia cường tăng sức kháng trượt cung tròn đáy móng. Lớp đệm cát dày 50 cm vừa đóng vai trò tầng lọc dẫn nước ngang từ bấc thấm thoát ra ngoài, vừa phân bố đều áp lực truyền từ thân đê xuống nền đất.

  5. Cần thực hiện biện pháp gì khi tốc độ chuyển vị ngang vượt ngưỡng 5 mm/ngày đêm?
    Khi tốc độ di chuyển ngang vượt mức 5 mm/ngày đêm, đơn vị thi công phải lập tức dừng việc đắp gia tải, tiến hành dỡ bớt một phần tải trọng đất đắp đỉnh đê hoặc đắp khẩn cấp bệ phản áp hai bên chân đê để cân bằng lại ứng suất trượt của khối đất.

Kết luận

  • Khảo sát và thiết lập bộ số liệu địa chất chi tiết với tầng bùn sét yếu dày 9 m đến 20 m có sức chịu tải rất thấp dưới 0,5 kG/cm2 tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
  • Khẳng định giải pháp bấc thấm PVD kết hợp đệm cát dày 0,5 m và vải địa kỹ thuật dệt chịu kéo trên 100 kN/m là phương án xử lý nền tối ưu về kỹ thuật và kinh tế.
  • Nâng cao hệ số ổn định trượt sâu Kmin đạt 1,42 (vượt yêu cầu tiêu chuẩn 1,40) và hoàn thành trên 80% độ cố kết nền đê chỉ sau 6 tháng gia tải trước.
  • Đề xuất quy trình kiểm soát thi công nghiêm ngặt với ngưỡng khống chế tốc độ lún tim đê dưới 10 mm/ngày đêm và chuyển vị ngang dưới 5 mm/ngày đêm.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác thiết kế đê bao ngăn mặn, bảo vệ an toàn 6.548 ha đất canh tác nông nghiệp trước tình trạng biến đổi khí hậu.

Trong thời gian từ 3 đến 6 tháng tới, các cơ quan chuyên trách cần nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và triển khai hệ thống mốc quan trắc chuẩn bị cho công tác xử lý nền. Các đơn vị tư vấn và ban quản lý dự án thủy lợi tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hãy chủ động tham khảo và áp dụng giải pháp công nghệ này nhằm nâng cao chất lượng và tính bền vững cho hệ thống đê bao ngăn mặn ven biển.