Tổng quan nghiên cứu

Sự xuống cấp của kết cấu bê tông cốt thép do tác động xâm thực từ môi trường nhiệt đới gió mùa và biến đổi khí hậu đang là thách thức kỹ thuật hàng đầu tại Việt Nam. Theo các khảo sát thực tế, quá trình ăn mòn cốt thép làm thể tích gỉ sắt tăng gấp 2 đến 6 lần so với ban đầu, sinh ra nội ứng suất kéo làm nứt vỡ lớp bê tông bảo vệ và làm suy giảm từ 22% đến 25,3% khả năng chịu lực danh định của cấu kiện. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng của học viên Lê Minh Chánh, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hưng tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung giải quyết bài toán cấp bách về dự đoán khả năng chịu uốn còn lại của dầm bê tông cốt thép bị ăn mòn thông qua các mô hình trí tuệ nhân tạo tiên tiến.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng quy trình định lượng hóa độ suy giảm khả năng chịu uốn của dầm bê tông cốt thép, so sánh độ chính xác của 6 thuật toán học máy đơn lẻ và các mô hình kết hợp để tìm ra công cụ dự báo tối ưu. Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên tập dữ liệu thực nghiệm gồm 120 dầm bê tông cốt thép bị ăn mòn thu thập từ các khối nhà chung cư xây dựng trước năm 1975 trên địa bàn Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh với sự phối hợp của Trung tâm Quản lý nhà và Giám định xây dựng. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở khoa học tin cậy giúp các kỹ sư kết cấu rút ngắn thời gian kiểm định, tối ưu hóa hơn 20% chi phí khảo sát đánh giá và đưa ra phương án gia cường sửa chữa chính xác cho các công trình có tuổi thọ trên 45 năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết ăn mòn điện hóa kim loại trong môi trường kiềm và cơ học kết cấu bê tông cốt thép suy thoái. Môi trường bê tông ban đầu có độ kiềm cao với độ pH từ 12 đến 13 nhờ lượng Ca(OH)2 dồi dào, tạo màng thụ động bảo vệ bề mặt cốt thép. Hiện tượng cacbonat hóa diễn ra khi khí CO2 thẩm thấu vào các mao quản, làm sụt giảm độ pH xuống dưới 9 và phá hủy lớp bảo vệ này. Đồng thời, sự xâm nhập của các ion Clorua (Cl-) và ion Sulfate (SO42-) từ môi trường ẩm ướt kích hoạt pin ăn mòn điện hóa, biến sắt thành các hợp chất gỉ xốp Fe(OH)2, Fe(OH)3 và Fe2O3.

Mô hình suy giảm tiết diện thanh thép cục bộ được thiết lập theo hàm số phi_R = phi_0 - alpha * x, trong đó phi_0 là đường kính danh định ban đầu, phi_R là đường kính còn lại sau ăn mòn, x là chiều sâu rỉ và alpha là hệ số dạng ăn mòn (thường nhận giá trị bằng 2). Khung phân tích khai phá dữ liệu tích hợp 6 thuật toán trí tuệ nhân tạo bao gồm: Mạng nơ-ron nhân tạo (ANN), Máy vectơ hỗ trợ (SVM), Cây phân loại và hồi quy (CART), Hồi quy tuyến tính (LR), Mô hình tuyến tính tổng quát (GENLIN), và Thuật toán tự động phát hiện tương tác Chi-bình phương (CHAID).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát thực địa kết hợp kiểm định thực nghiệm không phá hủy và phá hủy cục bộ trên 120 cấu kiện dầm thực tế. Cỡ mẫu 120 dầm được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích tại các chung cư cũ như Chung cư 1078-1082 Võ Văn Kiệt và Chung cư 415/1-9 Trần Phú thuộc Quận 5. Quy trình thu thập dữ liệu hiện trường sử dụng súng bật nảy kết hợp máy siêu âm đo vận tốc xung để xác định cường độ bê tông hiện trường, đồng thời tiến hành khoan rút lõi nén mẫu tại phòng thí nghiệm chuyên chuẩn LAS-XD và đo đạc trực tiếp đường kính cốt thép còn lại tại các vị trí trơ thép.

Toàn bộ tập dữ liệu 120 mẫu sau khi chuẩn hóa về khoảng giá trị từ 0 đến 1 được đưa vào phần mềm Clementine 12.0 và SPSS Modeler để huấn luyện và kiểm thử. Phương pháp phân tích được lựa chọn dựa trên kỹ thuật xác thực chéo (10-fold cross validation), phân chia 70% dữ liệu cho tập huấn luyện và 30% cho tập kiểm tra độc lập. Hiệu suất của các mô hình được định lượng chính xác qua hệ thống 5 chỉ số thống kê quốc tế: hệ số xác định R2, sai số toàn phương trung bình RMSE, sai số tuyệt đối trung bình MAE, phần trăm sai số tuyệt đối trung bình MAPE và chỉ số tổng hợp SI.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 120 mẫu dầm bê tông cốt thép cho thấy những kết quả nổi bật về năng lực dự báo của các mô hình trí tuệ nhân tạo:

Thứ nhất, mô hình Hồi quy tuyến tính (LR) và Mô hình tuyến tính tổng quát (GENLIN) thể hiện hiệu suất vượt trội và ổn định nhất trong toàn bộ 6 mô hình đơn lẻ. Cả hai mô hình này đạt hệ số xác định R2 xấp xỉ 0,92 và chỉ số sai số MAPE duy trì ở mức dưới 4,5%, phản ánh độ chuẩn xác rất cao khi tái hiện khả năng chịu uốn thực tế.

Thứ hai, mô hình Mạng nơ-ron nhân tạo (ANN) và Máy vectơ hỗ trợ (SVM) cho kết quả dự đoán ở mức khá với chỉ số sai số MAPE dao động từ 8,2% đến 12,6%, trong khi các mô hình dạng cây quyết định như CART và CHAID có độ phân tán sai số lớn hơn, đạt MAPE trong khoảng 14% đến 18%.

Thứ ba, việc thử nghiệm các mô hình kết hợp (Ensemble methods) thông qua kỹ thuật ghép nối đa thuật toán không mang lại sự cải thiện đáng kể về độ chính xác so với hai mô hình đơn lẻ dẫn đầu là LR và GENLIN, khi chỉ số tổng hợp SI của mô hình kết hợp chỉ cải thiện dưới 0,5% nhưng lại làm tăng độ phức tạp trong tính toán.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính giúp mô hình LR và GENLIN đạt độ chính xác cao xuất phát từ bản chất cơ học của bài toán uốn dầm. Mối quan hệ giữa mômen uốn giới hạn với các biến số đầu vào như cường độ chịu nén của bê tông, diện tích mặt cắt ngang cốt thép còn lại và chiều cao làm việc của tiết diện dầm mang tính quy luật tuyến tính tương đối rõ ràng. Trong khi đó, các mô hình phi tuyến phức tạp như ANN dễ gặp hiện tượng quá khớp (overfitting) do tập dữ liệu khảo sát thực tế gồm 120 mẫu có tính biến thiên ngẫu nhiên cao từ hiện trường.

Kết quả dự báo có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân tán giữa giá trị mômen uốn dự đoán và giá trị mômen uốn thực nghiệm, kết hợp bảng ma trận so sánh các chỉ số RMSE, MAE, MAPE và SI. Khi so sánh với các công bố quốc tế tiêu biểu như nghiên cứu của Azad và cộng sự năm 2010 hay Imam và Kazmi năm 2020, mô hình đề xuất trong luận văn đã cải thiện độ tin cậy của chỉ số R2 thêm từ 2% đến 10%, đồng thời loại bỏ tính toán quá thận trọng của các phương thức giải tích truyền thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực nghiệm và năng lực dự báo của mô hình AI, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể:

  1. Chuẩn hóa quy trình kiểm định không phá hủy kết hợp mô hình GENLIN: Các đơn vị tư vấn kiểm định cần ứng dụng quy trình tính toán nhanh bằng mô hình GENLIN để đánh giá mômen uốn còn lại của dầm sàn, đặt mục tiêu rút ngắn 40% thời gian khảo sát hiện trường trong lộ trình 12 tháng tới.

  2. Triển khai giải pháp gia cường kết cấu suy giảm khả năng chịu lực: Đối với các dầm bê tông cốt thép có mức độ hao hụt tiết diện thép trên 15% hoặc mômen uốn suy giảm trên 20%, chủ đầu tư và nhà thầu cần tiến hành dán bổ sung tấm sợi carbon polymer (CFRP) hoặc bọc áo bê tông cốt thép nhằm khôi phục ít nhất 90% khả năng chịu tải ban đầu trong vòng 3 đến 6 tháng sau kiểm định.

  3. Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa kết cấu công trình cũ: Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh cùng các cơ quan quản lý đô thị cần thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu số cho hơn 500 chung cư xây dựng trước năm 1975, hoàn thành cập nhật thông số ăn mòn định kỳ giai đoạn 2023 - 2025.

  4. Áp dụng công nghệ ức chế ăn mòn và bảo vệ catot: Ban quản lý công trình cần phối hợp với các chuyên gia vật liệu thực hiện quét phủ lớp sơn chống thấm gốc epoxy-polymer và lắp đặt hệ thống điện cực anot hy sinh, duy trì tốc độ xâm thực ion Clorua dưới ngưỡng 0,01 mm/năm trong suốt chu kỳ sử dụng 10 năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực nghiệm của luận văn là tài liệu chuyên khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Kỹ sư kết cấu và kiểm định viên xây dựng: Nắm vững phương pháp tích hợp công cụ AI để dự đoán sức chịu tải dầm cũ, giúp nâng cao độ chính xác trong báo cáo giám định an toàn chịu lực lên trên 95%.

  2. Chủ đầu tư và Ban quản lý dự án cải tạo đô thị: Có cơ sở dữ liệu khoa học để lựa chọn giữa phương án gia cường sửa chữa cục bộ hay phá dỡ xây mới, giúp tiết kiệm từ 15% đến 25% tổng mức đầu tư cải tạo.

  3. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Tiếp cận nguồn dữ liệu thực nghiệm 120 mẫu dầm ăn mòn thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và quy trình lập trình mô hình học máy trên Clementine/SPSS Modeler phục vụ công bố khoa học.

  4. Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng: Tham khảo các chỉ số đánh giá độ tin cậy để hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đánh giá mức độ nguy hiểm của nhà chung cư cũ hết niên hạn sử dụng.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình hồi quy tuyến tính LR và GENLIN có ưu điểm gì vượt trội so với mạng nơ-ron nhân tạo ANN trong đề tài này? Trong bài toán dự đoán dầm bê tông cốt thép với kích thước mẫu 120 cấu kiện, mô hình LR và GENLIN phản ánh trung thực mối tương quan giải tích trực tiếp giữa diện tích thép còn lại và mômen kháng uốn, mang lại sai số MAPE dưới 4,5% mà không gặp hiện tượng quá khớp như cấu trúc nhiều lớp ẩn của ANN.

Làm thế nào để xác định chính xác cường độ bê tông và đường kính cốt thép còn lại tại hiện trường? Kỹ sư kết hợp phương pháp thí nghiệm không phá hủy sử dụng súng bật nảy cùng máy siêu âm truyền xung, hiệu chỉnh kết quả bằng phương pháp khoan rút lõi nén mẫu tại phòng LAS, đồng thời đục tỉa cục bộ tại vị trí trơ thép để đo trực tiếp đường kính phi_R bằng thước kẹp cơ khí chính xác 0,02 mm.

Quá trình ăn mòn làm suy giảm khả năng chịu uốn của dầm bê tông cốt thép qua những cơ chế vật lý nào? Ăn mòn làm giảm diện tích mặt cắt ngang thanh thép theo thời gian, đồng thời lớp gỉ nở thể tích gấp 2 đến 6 lần phá vỡ lớp bê tông bảo vệ, làm triệt tiêu hoàn toàn lực dính bám giữa bê tông và cốt thép, dẫn đến giảm độ cứng uốn và suy giảm từ 20% đến 25% khả năng chịu tải.

Tại sao các mô hình kết hợp Ensemble không cải thiện được độ chính xác so với mô hình đơn lẻ? Do hai mô hình đơn lẻ LR và GENLIN đã giải thích được trên 90% phương sai của tập dữ liệu thực tế, việc kết hợp thêm các thuật toán cây quyết định có độ nhiễu cao như CART hay CHAID đã triệt tiêu lợi thế đơn biến, khiến mô hình kết hợp không gia tăng được hiệu quả thống kê.

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể áp dụng cho các công trình vùng biển ngập mặn không? Hoàn toàn có thể áp dụng vì cơ chế ăn mòn do ion Clorua trong môi trường nước biển tương đồng với cơ chế ăn mòn điện hóa được phân tích trong luận văn, tuy nhiên kỹ sư cần hiệu chỉnh hệ số tốc độ xâm thực alpha phù hợp với nồng độ mặn của từng vùng địa lý cụ thể.

Kết luận

  • Luận văn đã giải quyết thành công bài toán đánh giá định lượng khả năng chịu uốn của 120 dầm bê tông cốt thép bị ăn mòn tại các chung cư cũ Thành phố Hồ Chí Minh bằng 6 mô hình trí tuệ nhân tạo.
  • Xác định rõ mô hình Hồi quy tuyến tính (LR) và Mô hình tuyến tính tổng quát (GENLIN) là hai công cụ dự báo tối ưu nhất với hệ số R2 đạt trên 0,90 và sai số MAPE dưới 4,5%.
  • Chứng minh các mô hình kết hợp phức tạp không mang lại hiệu quả vượt trội so với mô hình tuyến tính đơn lẻ trong bài toán đánh giá dầm thực tế.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu thực nghiệm quý giá và quy trình khai phá dữ liệu chuẩn hóa trên phần mềm Clementine 12.0 cho ngành kỹ thuật kết cấu công trình.
  • Trong giai đoạn tiếp theo, nhóm nghiên cứu khuyến nghị mở rộng tập dữ liệu lên trên 300 mẫu dầm cột tại các tỉnh ven biển Nam Bộ; các đơn vị tư vấn và cơ quan quản lý hãy áp dụng ngay quy trình dự báo AI này vào công tác kiểm định an toàn chung cư cũ để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho cộng đồng.