CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG LẺ 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ VÀ CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ LL Kh: lệm dịch vụ a. Khai niệm Có rất nhiều quan điểm về dịch vụ, như sau: Theo Phillip Kotler (1997), dịch vụ là “mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cắp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liễn với sản phẩm vật chất”.
Theo Zeitham! (2000), dich vu là “những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nảo đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng và lâm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của họ thì được gọi là địch vụ”. Cũng theo hướng này, Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là “những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng có và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng” Edvardsson (2005) cho rằng, dịch vụ là quy trình sản xuất và tiêu thụ mà có sự tham gia của khách hàng. Dịch vụ cũng được hiểu là các trải nghiệm về các phương pháp làm bải lòng khách hàng (Tyagi & Gupta, 2008). vậy, dịch vụ là quá trình cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp liên quan mật thiệt n sự có mặt của khách hàng và cảm nhận của ho từ việc trải nghiệm dich vụ đó.
Trong quá trình cung ứng đó, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp gồm một loạt các hoạt động trước và sau khi tiếp xúc với khách hàng. Như vậy, dịch vụ là một loạt các hoạt động của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, trong đó có sự tham gia của bản thân khách hàng. Đặc điểm Dịch vụ có 5 đặc điểm sau: Thứ nhất, tính vô hình: tính vô hình được thể hiện ở chỗ người ta không. thể nảo dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ.
Thứ hai, tính không thể tách rời: Dịch vụ thường được cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời, khác với hàng hoá vật chất thường phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiễu nắc trung gian, rồi sau đó mới đến tay người tiêu dùng cuối cùng. 'Thứ ba, tính không đồng nhất: Khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vu. 'Thứ tư, tính không thể cắt trữ: Tính không thể cắt trữ là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời. Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họ cắt trữ khả năng cung cắp dịch vụ cho những lần tiếp theo.
Dịch vụ chỉ tổn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt đề cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thi dem ra ban. “Thứ năm, tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua. Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyển sử dụng dich 12 vụ, được hướng lợi ích mà địch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi 1.
Khái iệm chất lượng dịch vụ và đo lường chất lượng dịch vụ a. Khái niệm chất lượng dịch vụ. Theo Lehtinen & cộng sự (1982), chất lượng địch vụ phải dược đánh giá trên hai khía cạnh: (¡) quá trình cung cấp dịch vụ và (ii) kết quả của dịch vụ [20] Gronroos (1984) đưa ra mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ với hai thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là chất lượng kỹ thuật (là những gì mà khách hàng thực tế nhận được) và chất lượng chức năng (là cách thức dịch vụ được cung cấp) [19] “Theo Parasurman & cộng sự (1985), chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng vễ tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể [22]. Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được.
Chất lượng dich vu là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Lewis và Booms (1983) cũng cho rằng chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đơi của khách hàng tốt đến đâu [21]. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng đồng. nghĩa với việc đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất.
“Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa lả đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất” [10, tr. “Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hảng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra 13 một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất" (Lưu Văn Nghiêm, 2008, tr.163) Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu chất lượng dịch vụ NHBL là cảm nhận của khách hàng về khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ NHBL sẽ được cung cấp và nhận thức của họ khi đã sử dụng dịch vụ NHBL.
b, Mô hình lý thuyết đo lường chất lượng dịch vụ (1) Mô hình FSQ and TSQ (Gronroos, 1984) ‘Theo Gronroos, chất lượng dịch vụ được xem xét trên hai tiêu chí, đó là chat Iugng chire nang (FSQ- Functional Service Quality) và chất lượng kỹ thuat (TSQ- Technical Service Quality). Theo d6, ông đã đưa 3 nhân tổ ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ là chất lượng chức năng, chất lượng kỹ thuật và hình ảnh doanh nghiệp. em?» œ«@<>c«œ> > Hogt ding Marking (FR bin hing, quing eo.) Wig ters hol guen, vin ne. Ỹ/ "kỹ thuật sti năng Cũng cấp địch vu gi? Cũng cáp địch vụ như thể nào? Hình 1.1: Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos (1984) ~ Chất lượng kỹ thuật là đánh giá của khách hàng về dịch vụ được cung cấp bởi bắt kỳ nhà cung cắp dịch vụ nảo trên thị trường.
~ Chất lượng chức năng là khía cạnh quan trọng hơn đối với nhận thức của người tiêu dùng và sự khác biệt về dịch vụ so với chất lượng kỹ thuật đề 14 cập đến cách người tiêu dùng sử dụng dịch vụ. Mặc dù chất lượng chức năng. quan tâm đến cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng kỹ thuật quan tâm đến dịch vụ nào được cung cấp. ~ Hình ảnh doanh nghiệp đóng một hình ảnh tích cực về nhận thức của khách hàng.
Nói tóm lại, do mô hình này, chất lượng dịch vụ, theo cảm nhận của người tiêu dùng, là kết quả của sự so sánh giữa kỳ vọng của người tiêu dùng. và trải nghiệm thực tế của họ. Nếu chất lượng được kỳ vọng của người ding vượt trội so với chất lượng có kinh nghiệm của người dủng, thì tổng chất lượng cảm nhận là tích cực và nếu kỳ vọng không được đáp ứng bằng kinh nghiệm thực tế thì chất lượng cảm nhận sẽ thấp. (2) Mô hình 5 khe hở chất lượng dịch vụ Trong quá trình cung cấp dịch vụ, giữa nhà cung cấp (ngân hảng) và khách hàng luôn tổn tại một khoảng cách.
Các khoảng cách này biển đổi phụ thuộc vào hai nhân tố chính là khách hàng và ngân hàng. Ngoài ra, còn có các yếu tố môi trường xung quanh tác động, ảnh hưởng đến khách hàng và ngân hàng. Khoảng cách cảng lớn, càng thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng thấp. Do đó, các nhà quản trị doanh nghiệp phải tìm cách thu hẹp khoảng cách này.
15 ‘Trai nghiệm quá khứ. “Cung cắp dịch vụ “Truyền đạt thông tin Khoảng cách 3 cách4 + Ấp dụng kiến thức thực tế vào thiết kế dịch vụ.2: Mô hình 5 khoảng cách của Parasuraman & cqg (1985) ~ Khoảng cách 1: Xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ sẽ nhận được và nhận thức của khách hàng về những kỳ vọng. này của khách hàng. Khoảng cách 1 thường xuất hiện do ngân hàng không.
hiểu được hết các đặc điểm nào tạo nên chất lượng dịch vụ của mình, đánh giá chưa sát nhu cầu của khách hàng. ~ Khoảng cách 2: Nay sinh trong quá trình thực hiện các mục tiêu chất lượng dịch vụ. Ngân hàng gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính của dịch vụ. Khoảng, cách thứ hai phụ thuộc chú yếu vào năng lực thiết kế sản phẩm của ngân hàng 16 ~ Khoảng cách 3: Xuất hiện khi nhân viên ngân hàng không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định.
Khoảng cách nảy phụ thuộc nhiều vào chất lượng đội ngũ nhân viên trực tiếp cung cấp sản phẩm dịch vụ. Dù sản phẩm được thiết kế theo đúng ý tưởng, có nhiều tiện ích, có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhưng nếu tại khâu cung cấp, thái độ và trình độ chuyên môn của nhân viên không đảm bảo, không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, khách hảng cảm thấy phiền toái, những nỗ lực cỗ gắng của ngân hàng trong tìm hiểu nhu cầu thị trường, thiết kế sản phẩm. cùng không có ý nghĩa. ~ Khoảng cách 4: Đây là khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ thực tế và sự kỳ vong của khách hàng dưới tác động của thông tin tuyên truyền bên ngoài như quảng cáo, tiếp thi,.
Dé là những hứa hẹn được phóng đại không. chính xác, vượt quá khả năng thực hiện của nhà cung cấp dịch vụ. Điều này rất dễ làm mắt lòng tin cúa khách hàng nếu nhà cung cấp dịch vụ thực hiện quảng cáo, tuyên truyền quá sự thật. Khoảng cách 5: Sau khi sử dụng dịch vụ, khách hàng sẽ có sự so sánh chất lượng dịch vụ mà họ cảm nhận được với chất lượng dịch vụ đã kỳ vọng.
Van dé mau chốt đảm bảo chất lượng dịch vụ là những giá trị khách hàng nhận được trong quá trình sử dụng sản phẩm dịch vụ phải đạt hoặc vượt trội so với những gì khách hàng chờ mong. Như vậy, chất lượng dịch vụ được. đánh giá cao hay thấp phụ thuộc vào sự cảm nhận về dịch vụ thực tế của khách hảng như thế nảo trong bối cảnh khách hàng mong đợi gì từ ngân hàng. Parasuraman & ctg (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ năm.
Khoảng cách thứ năm nảy phụ thuộc vào các khoảng. cách trước đó.