MỞ ĐẦU I. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu lớp địa chất của các khu vực trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Chọn ra các khu vực địa chất có tính chất cơ lý gần như tương tự nhau. Từ đó lập bảng tra kết quả tính lún cho các khu vực đó nhằm phục vụ cho bước lập dự án đầu tư.
Sự cân thiết của đề tài Hậu Giang là một tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, được thành lập vào năm 2004 do tách ra từ tỉnh Cần Thơ cũ. Tỉnh ly hiện nay là thành phố Vi Thanh cách Thành phố Hỗ Chí Minh 240 km về phía tây nam, cách thành phố Can Thơ 60 km theo Quốc lộ 61 và chỉ cách 40 km theo đường nỗi Vị Thanh — thành phố Cần Thơ Hậu Giang mặc dù là một tỉnh mới tách còn nhiều khó khăn. Nhưng cùng với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước tỉnh Hậu Giang cũng xây dựng nhiều công trình giao thông trọng điểm, huyết mạch, nhằm phát triển nền kinh tế tinh nhà, đảm bảo an ninh quốc phòng và nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân trong tỉnh.Trước nhu cầu đó nhiều tuyến đường được xây dựng như: Đường Bốn tong một ngàn, đường Quan Lộ - Phụng Hiệp, đường nối Vị Thanh - Cần Tho. Thực tế cho thay nhiều tuyến đường sau khi xây dựng xong, khi đưa vào khai thác sử dụng đã xảy ra các hiện tượng mất 6n định như: Lun, sụt, trượt lỡ mái taluy.Đặc biệt trên tuyến đường đường nối Vị Thanh - Cần Thơ sau khi đưa vào khai thác chưa day một tháng đường đã xảy ra hiện tượng lún, sụt mat ôn định nền đường, báo, đài cũng thường xuyên phản ánh đã gây hoang mang cho người dân, tai nạn giao thông cũng thường xuyên xảy ra.
Hiện nay một số dự án đầu tư có quy mô nhỏ, kinh phí hạn chế, số lượng lỗ khoan trong bước lập dự án đầu tư còn thưa. Do đó, số liệu đầu vào để tính lún nền đường không đủ khái quát hết toàn tuyến, dẫn đến kết quả tính toán sai lệch lớn so với thực tê. Về địa chất của các khu vực trên dia bàn tỉnh Hậu Giang thì hiện có một số dự án đường qui mô lớn, có số liệu lỗ khoan địa chất tương đối nhiều, đáng tin cậy. Ví dụ như: Tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp, đường Vi Thanh — Can Tho, Nam Sông Hậu, Bốn Tổng — Một Ngàn.
Việc tập hợp số liệu địa chất, phân chia các khu vực địa chất có tính chất cơ lý tương tự nhau. Từ đó lập bảng tra kết quả tính lún và phân chia khu vực đất yếu phục vụ cho bước lập dự án đầu tư là rất thiết thực và tiết kiệm kinh phí cho các dự án. Nghiên cứu dé lập bang tra kết quả tính lún cũng nhằm giúp cho việc quản lý, đầu tư xây dựng, khai thác mạng lưới giao thông vận tải đường bộ đạt hiệu quả cao, đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ quy hoạch đề ra. Noi dung nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm địa chất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang và hiện trạng thực tế lún của các công trình.
Nghiên cứu các phương pháp tính lún. Từ đó lựa chọn phương pháp tính lún cho đề tài. Thu thập, thông kê và xử lý số liệu dia chất, phân chia đất yếu thành các khu vực riêng. Trên cơ sở đó, tính lún nền đường với các chiều cao đắp khác nhau để thiết lập bảng tra tính lún theo thời gian và độ lún ôn định cho các khu vực trên địa bàn tỉnh Hau Giang.
Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp thực nghiệm, phương pháp lý thuyết và thống kê toán học dé xử lý số liệu. Tổng hợp các số liệu về tính toán lún và sử dụng phần mềm pho biến Excel kết hop Visual Basic dé tính toán độ lún. So sánh kết quả tính toán độ lún giữa bảng tra và kết quả tính toán độ thực tế. Y nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Giúp cho co quan chức năng có thé ước lượng được kết quả lún nên đường, từ đó kiểm tra sơ bộ kinh phí đầu tư và phương án xử lý nền đất yếu.
-3- Đối với người thiết kế, sơ bộ đưa ra được độ lún nên đường với các chiều cao đắp khác nhau để có thể: lập đề cương khảo sát, đưa ra giải pháp xử lý nền đường. Giúp cho người thiết kế nhanh chóng có kết quả tính lún phù hợp với qui mô nên đường, rút ngăn thời gian hoàn thành công tác lập dự án. Giới hạn của đề tài Do thời gian có hạn, luận văn còn những hạn chế sau: * Bang tra chi áp dụng cho nên đường có qui mô phố biến B=12m; s* Bang tra chỉ dừng lại ở chiều cao đắp Hạ=3. s* Các số liệu về công trình thực tế còn hạn chế nên kết quả nghiên cứu chỉ đại diện cho một khu vực nhất định chưa thé đại diện cả tinh Hậu Giang.
CHUONG 1: TONG QUAN VE DIEU KIEN TU NHIEN VA DIA CHAT CONG TRÌNH O TINH HẬU GIANG 1. DIEU KIỆN TỰ NHIÊN 1. Vi trí địa lý Hậu Giang là tỉnh thuộc khu vực nội địa của Đồng bằng Sông Cửu Long. Lãnh thổ của tỉnh năm trong tọa độ từ 9030'35 đến 10019'17 Bắc va từ 10501403 đến 106017'57 kinh Đông.
Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía Bắc giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long, phía nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông giáp tỉnh Sóc Trăng Tỉnh nằm ở hạ lưu sông Hậu, giữa một mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chăng chit. Tỉnh năm ké thành phố Cần Thơ, trung tâm của vùng Tây Nam Bộ. Sự phát triển của thành phố Cần Thơ sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển của tỉnh Hậu Giang. Tuy nhiên, do vị trí năm sâu trong nội địa nên Hậu Giang gặp không ít khó khăn trong việc khai thác các nguồn lực bên ngoài lãnh thổ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá.
CAN THO CÔ bộ RONG KỆMG KIÊN lANŒ "HUAN HÔNG 0Á m—m Bac LIÊt †+‹A104 Py Hình 1-1. Bản đồ các khu vực trên tỉnh Hậu Giang 1. Dia hình, dia mạo Năm ở phan cuối đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, địa hình Hậu Giang mang nét chung của vùng là địa hình thấp. Toàn bộ lãnh thé tự nhiên của tinh năm ở độ cao dưới 2m.
Tuy nhiên cũng có sự chênh lệch giữa các khu vực. Khu vực ven sông Hậu cao nhất, với độ cao vào khoảng | - 1,5m và địa hình thấp dần khi xa sông. Phan lớn lãnh thổ Hậu Giang năm giữa kênh Xà No và Quan lộ - Phụng Hiệp là vùng thấp, trũng, độ cao trung bình chỉ khoảng 0,2 - 0,5m. Một nét độc đáo của địa hình Hậu Giang là nó bị chia cắt bởi nhiều kênh rạch.
Việc đào kênh chang những tạo ra các địa hình âm dé tiêu thoát nước mà còn tạo ra các địa hình dương có độ cao tương đối hàng mé Toàn bộ khu vực tuyến đi qua nằm hoàn toàn trong vùng ĐBSCL nên địa hình mang nét đặt trưng của vùng nay là tương đối băng phắng, có nhiều kênh rach chia cắt địa hình khu vực là đồng băng, nhiều kênh gạch, ao mương. Địa mạo khu vực theo nguồn sốc hình thái, chủ yếu là dạng địa mạo bồi tụ cửa sông ven biến, chịu nhiều tác động cau các hoạt động dân sinh. Lớp phủ địa mạo là loại đất sét, sét pha màu xám xanh, xám ghi, xám vàng nguồn gốc trầm tích song biển hỗn hop. Vì vậy cần thiết phải gia cố nền đất khu vực bằng cách gia tải trước, căm bắc tham.
Khí hậu - khí tượng Hậu Giang có khí hậu cận xích đạo gió mùa. Tính chất này thể hiện ở những đặc điểm về quang và nhiệt. Số giờ nắng trung bình trong năm nhiều (trung bình 2300 - 2500 gid), tong lượng bức xạ trung bình khoảng 1500kcal/em2/năm. Nhiệt độ trung bình năm cao, khoảng 26,7 - 270C với tong nhiệt là 98000C.
Tính chất gió mùa thể hiện rõ nhất ở chế độ gid Và chế độ âm. Trong năm, Hậu Giang chịu ảnh hưởng của hai mùa gió là gió tín phong vào mùa đông gây ra thời tiết khô và gió tây nam thôi vào mùa hè, mang theo hơi 4m từ biển vào và gây ra thời tiêt mưa, âm. -6- Lượng mưa cua Hậu Giang phân hóa theo mùa. Mùa mưa kéo dài từ thang 5 đến tháng 11, tập trung 92 - 97% lượng mưa cả năm.
Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 với tong lượng mưa chỉ đạt khoảng 100mm và chiếm không day 5 - 6% lượng mưa cả năm. Chế độ thuỷ văn Một đặc điểm nỗi bật là phần lớn lãnh thé Hậu Giang trong năm đều có thời ki ngập nước. Bắt đầu từ tháng 7 các vùng đất trong tỉnh bắt đầu lần lượt bị ngập với thời gian có thể kéo dài 2 - 3 tháng, cho đến tận tháng 11 nước mới rút hết. Nói chung những vùng cao ven sông Hậu và những vùng phía Tây trong lưu vực sông Cái Lớn thoát nước tốt nên ít bị ngập hoặc thời gian ngập lụt dài hơn.
Hậu Giang có mạng lưới sông rach dày đặc trong đó phan chính thuộc lưu vực sông Hau và chịu tác động của dòng sông này. DAC DIEM DIA CHAT CÔNG TRÌNH O DONG BẰNG SÔNG CỨU LONG 1. Cau trúc dia chất và lich sử phat triển địa chất ky Dé Tứ a. Địa tầng Theo kết qua đo vẽ lập bản đô địa chất lãnh thé Việt Nam ty lệ 1:500.000 do Nguyễn Xuân Bao va Trần Đức Luong chủ biên, Dong bằng sông Cửu Long được cau tạo từ đất đá trầm tích, macma tuôi từ PZ, NZ đến KZ.
Theo kết quả nghiên cứu của Tổng cục địa chat cũng cho rang cau trúc ĐBSCL có dạng bon trũng theo hướng Đông Bac — Tây Nam mà trung tâm bon trũng có thé là vùng kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, Theo tài liệu hố khoan của Tổng cục Dầu khí cho thay khu vuc nay, móng đá ở độ sau tới 900m, vay quanh vùng trung tâm là các vùng cánh của bổn trũng và xa hơn là các đới nâng cao của móng đá lộ ra ở Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh (miễn Đông Nam Bộ) bên kia là núi đá ở Hà Tiên, An Giang, vịnh Thái Lan. Các tài liệu nghiên cứu phan lộ déu cho thấy tudi của móng đá trước Kanozoi (khoảng trên 65 triệu năm). Phủ lên trên móng da là tập hợp các thành tạo bở rời, có tuổi từ Neogen đến Đệ tứ, trên mặt là tầng trầm tích trẻ (trầm tích Holoxen) có tuổi khoảng 15.000 năm có chiêu sâu lên tới 110m, đây cũng chính là _7.