Tổng quan nghiên cứu

Ngành hàng không dân dụng đóng vai trò huyết mạch trong mạng lưới giao thông toàn cầu nhưng đồng thời cũng là nguồn phát sinh ô nhiễm không khí cục bộ và khí nhà kính đáng kể. Theo ước tính từ Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu, ngành hàng không sẽ đóng góp khoảng 4% tổng lượng khí carbon dioxide nhân tạo và làm gia tăng 13% nồng độ ozone tập trung vào năm 2050. Tại Việt Nam, Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất giữ vị thế đầu mối giao thông lớn nhất khu vực phía Nam với diện tích 850 ha, tiếp nhận trung bình 400 chuyến bay mỗi ngày và phục vụ khoảng 15 triệu lượt hành khách thông qua vào năm 2010 (chiếm 55% tổng dung lượng vận tải hành khách toàn quốc).

Sự gia tăng liên tục của tần suất bay và mật độ phương tiện mặt đất trong không gian đô thị đông đúc của Thành phố Hồ Chí Minh đặt ra thách thức nghiêm trọng về quản lý chất lượng môi trường không khí. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là áp dụng công cụ mô hình hóa khuếch tán khí tiên tiến nhằm định lượng và dự báo mức độ lan truyền các chất ô nhiễm chính gồm NOx, CO, SO2, HC và bụi PM10 phát sinh từ động cơ tàu bay trong bán kính lưới tính 5km x 5km quanh sân bay. Bằng việc tích hợp cơ sở dữ liệu bay thực tế và số liệu khí tượng năm 2009, luận văn tạo lập nền tảng khoa học định lượng đầu tiên tại Việt Nam để đánh giá tác động phát thải hàng không, cung cấp cơ sở tin cậy cho công tác quản lý quy hoạch môi trường đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng nền tảng lý thuyết lan truyền chất ô nhiễm trong khí quyển dựa trên mô hình vệt khói Gauss và lý thuyết tương đồng Monin - Obukhov về cấu trúc lớp biên khí quyển. Hệ thống mô hình tích hợp AERMOD do Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ chuẩn hóa được lựa chọn làm công cụ tính toán chủ đạo. Hệ thống này bao gồm ba cấu phần tương hỗ: module xử lý khí tượng AERMET (tính toán các tham số nhiệt động, vận tốc ma sát và chiều cao xáo trộn), module địa hình AERMAP (xử lý tọa độ và tương tác địa hình phức hợp), cùng module lan truyền AERMOD tích hợp thuật toán PRIME nhằm mô phỏng bóng khí động quanh công trình kiến trúc.

Khung tính toán phát thải tuân thủ hướng dẫn kỹ thuật của Cục Hàng không Dân dụng Quốc tế đối với chu trình cất và hạ cánh dưới cao độ 1000m. Chu trình LTO bao gồm 4 chế độ vận hành đặc trưng: chế độ lăn bánh (Taxi/Idle), cất cánh (Take-off), lấy độ cao (Climb-out) và hạ cánh (Approach). Tải lượng phát thải được xác lập qua tích số giữa hệ số phát thải định mức của từng loại động cơ, thời gian hoạt động ở mỗi chế độ và lượng tiêu hao nhiên liệu thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê và kiểm kê phát thải toàn diện trên cỡ mẫu 45 hãng hàng không nội địa và quốc tế hoạt động tại Tân Sơn Nhất, phân loại chi tiết theo từng chủng loại tàu bay thương mại từ cỡ nhỏ đến thân rộng (như Boeing 747-400, Airbus A330, A321, ATR72). Toàn bộ chuỗi dữ liệu khí tượng bề mặt và dữ liệu thám không cao không được thu thập liên tục 8.760 giờ trong năm 2009 từ trạm khí tượng Tân Sơn Hòa.

Phương pháp chọn mẫu quan trắc thực địa được thiết lập có chủ đích tại 10 vị trí không khí xung quanh và 14 điểm đo tiếng ồn đại diện cho cả khu vực bên trong hàng rào sân bay và các vùng dân cư tiếp giáp (như đường Trường Sơn, Quang Trung, Chế Lan Viên). Lý do lựa chọn mô hình AERMOD bắt nguồn từ khả năng xử lý đồng thời nhiều dạng nguồn thải (nguồn đường cho đường cất hạ cánh, nguồn thể tích cho đường lăn và sân đỗ) trong phạm vi khuếch tán dưới 50km với độ chính xác cao. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được thực hiện từ ngày 28 tháng 07 năm 2011 đến ngày 10 tháng 01 năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích hiện trạng môi trường nền và mô phỏng khuếch tán chỉ ra các phát hiện cốt lõi:

  • Hiện trạng chất lượng không khí nền: Số liệu quan trắc thực địa tháng 07/2009 ghi nhận nồng độ TSP (0,13 - 0,27 mg/m3), SO2 (0,013 - 0,097 mg/m3), NO2 (0,029 - 0,075 mg/m3) và CO (2,1 - 8,2 mg/m3) tại hầu hết các trạm nội bộ đều nằm trong giới hạn của QCVN 05:2009/BTNMT. Tuy nhiên, tại các trạm ranh giới dân cư giáp trục giao thông (KK9 và KK10), hàm lượng bụi PM10 đạt mức 0,18 - 0,28 mg/m3, vượt ngưỡng quy chuẩn cho phép từ 1,20 đến 1,33 lần.
  • Đặc tính phát thải theo chế độ bay: Hoạt động ở chế độ cất cánh và lấy độ cao tiêu thụ nhiên liệu lớn nhất, tạo ra tải lượng phát thải NOx và SO2 cực đại. Ngược lại, chế độ lăn bánh (Taxi-in/out) khi động cơ vận hành ở mức công suất thấp là nguồn sinh ra hơn 70% tổng lượng phát thải hydrocarbon (HC) và khí carbon monoxide (CO) trong toàn chu trình LTO.
  • Phạm vi ô nhiễm từ mô hình AERMOD: Kết quả chạy mô hình trên lưới tính 5km x 5km qua 12 tháng xác định NOx là thông số ô nhiễm đáng lưu tâm nhất. Nồng độ NOx cực đại trung bình 1 giờ và 24 giờ tập trung cục bộ dọc theo hai trục đường cất hạ cánh 07R/25L và 07L/25R, có xu hướng lan truyền ra khu vực dân cư lân cận thuộc quận Gò Vấp và Tân Bình theo hướng gió chủ đạo. Các chỉ tiêu CO, SO2 và PM10 do máy bay phát thải vẫn duy trì trong ngưỡng an toàn.

Thảo luận kết quả

Sự phân bố không gian của các dải nồng độ ô nhiễm chịu sự chi phối trực tiếp từ chế độ gió mùa tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong mùa khô (tháng 11 đến tháng 4 năm sau), gió hướng Đông Bắc chiếm ưu thế đẩy vệt khói thải về phía Tây Nam sân bay; ngược lại, gió mùa Tây Nam vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) chuyển hướng lan truyền chất ô nhiễm về phía Đông Bắc hướng sang khu vực quận Gò Vấp.

Dữ liệu mô phỏng được trực quan hóa qua hệ thống 60 bản đồ đường đồng mức nồng độ (isopleths) theo các mốc thời gian trung bình 1 giờ và 24 giờ, kết hợp 5 đồ thị biến thiên nồng độ cực đại qua các tháng. Khi so sánh với các nghiên cứu sân bay quốc tế như Schiphol (Hà Lan) hay Frankfurt (Đức), kết quả luận văn phản ánh quy luật tương đồng: khí thải từ động cơ máy bay đóng góp phần lớn tải lượng NOx cục bộ, trong khi ô nhiễm bụi tại vùng ven sân bay chủ yếu bị cộng hưởng bởi mật độ phương tiện giao thông đường bộ trên các tuyến đường tiếp cận.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng định lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ:

  • Lắp đặt hệ thống cấp điện mặt đất và điều hòa trung tâm: Trang bị đồng bộ hệ thống cấp điện mặt đất (Ground Power Unit - GPU) và hệ thống khí nén tại 44 bến đỗ máy bay trước năm 2015 nhằm cắt giảm 85% thời gian hoạt động của động cơ phụ (APU), giảm thiểu phát thải trực tiếp CO và HC tại sân đỗ. Chủ thể thực hiện: Tổng công ty Cảng hàng không miền Nam.
  • Ngầm hóa hệ thống cấp nhiên liệu: Triển khai mạng lưới ống dẫn nhiên liệu ngầm (Hydrant System) thay thế hoàn toàn đội xe bồn tra nạp xăng dầu nội bộ, đặt mục tiêu giảm 60% lượng phát thải hydrocacbon bay hơi và triệt tiêu khí thải từ phương tiện cơ giới mặt đất trong giai đoạn 2013-2016. Chủ thể thực hiện: Đơn vị cung ứng nhiên liệu hàng không phối hợp ban quản lý cảng.
  • Tối ưu hóa quy trình điều hành bay và khai thác mặt đất: Áp dụng phương thức lăn bánh bằng một động cơ (Single-engine taxiing) và rút ngắn thời gian chờ cất cánh trên đường lăn từ mức trung bình 15 phút xuống dưới 8 phút, giúp giảm khoảng 25% phát thải NOx trong quá trình mặt đất. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Quản lý bay dân dụng và các hãng hàng không.
  • Thiết lập vành đai xanh và trạm quan trắc tự động: Trồng các dải cây xanh cách ly có khả năng hấp phụ khí độc tại chu vi ranh giới 850 ha của sân bay, đồng thời lắp đặt 2 trạm quan trắc không khí tự động liên tục tại các điểm nhạy cảm phía quận Gò Vấp và Tân Bình trước năm 2014. Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý và quy hoạch hàng không: Cục Hàng không Việt Nam và các Tổng công ty Cảng hàng không có thể khai thác phương pháp luận kiểm kê phát thải ICAO và kịch bản mô phỏng để lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho các dự án mở rộng nhà ga hoặc quy hoạch sân bay mới.
  • Kỹ sư và chuyên gia tư vấn môi trường: Cung cấp tài liệu thực hành chuẩn mực về quy trình thiết lập, liên kết và chạy các module AERMET, AERMAP, AERMOD trong mô hình hóa chất lượng không khí cho các nguồn thải giao thông phức hợp.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Môi trường: Nguồn tư liệu học thuật giá trị về phương pháp tích hợp dữ liệu khí tượng cao không, dữ liệu phát thải động cơ phản lực và công cụ GIS trong quản lý môi trường không khí đô thị.
  • Chính quyền đô thị và cơ quan y tế dự phòng: Cung cấp số liệu dự báo nồng độ NOx và bụi trong bán kính 5km làm căn cứ xây dựng kế hoạch hành động bảo vệ sức khỏe cộng đồng dân cư sinh sống quanh các đầu mối giao thông trọng điểm.

Câu hỏi thường gặp

Khí thải máy bay trong chu trình LTO ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng không khí mặt đất?

Chu trình LTO diễn ra ở tầng đối lưu dưới cao độ 1000m, nơi không khí bị xáo trộn mạnh. Các hoạt động cất cánh, hạ cánh và lăn bánh phát thải trực tiếp NOx, CO, SO2, HC và bụi PM10 vào tầng mặt đất, tác động trực tiếp đến sức khỏe của cư dân đô thị sống quanh khu vực sân bay.

Tại sao mô hình AERMOD được lựa chọn thay vì các mô hình khuếch tán khác?

AERMOD là mô hình được chuẩn hóa bởi EPA, có khả năng xử lý hiện tượng phân tán trong lớp biên khí quyển ổn định và đối lưu. Mô hình tính toán linh hoạt cho địa hình bằng phẳng lẫn phức tạp, xử lý được cả nguồn đường cất hạ cánh và nguồn thể tích sân đỗ trong phạm vi 50km.

Thông số ô nhiễm nào từ hoạt động của sân bay Tân Sơn Nhất cần kiểm soát chặt chẽ nhất?

Khí NOx là chất ô nhiễm trọng điểm cần ưu tiên kiểm soát. Khí này phát sinh cực đại ở chế độ cất cánh và lấy độ cao do động cơ vận hành ở công suất tối đa. Kết quả mô phỏng cho thấy nồng độ NOx có thời điểm tiệm cận ngưỡng tiêu chuẩn tại khu vực lân cận đường băng.

Dữ liệu khí tượng đầu vào ảnh hưởng ra sao đến độ chính xác của mô hình AERMOD?

Dữ liệu khí tượng từ trạm Tân Sơn Hòa với 8.760 giờ quan trắc bề mặt và dữ liệu thám không cung cấp các tham số quyết định như hướng gió, tốc độ gió, độ dốc nhiệt độ và chiều cao lớp hòa trộn, quyết định trực tiếp hướng lan truyền và mức độ pha loãng của vệt khói ô nhiễm.

Việc lắp đặt hệ thống điện mặt đất (GPU) mang lại lợi ích cụ thể gì?

Khi máy bay đậu tại bến, hệ thống GPU cung cấp điện năng thay thế cho động cơ phụ APU chạy bằng nhiên liệu phản lực. Giải pháp này giúp cắt giảm tới 85-90% thời gian chạy APU tại sân đỗ, từ đó giảm thiểu đáng kể phát thải CO, hydrocarbon và tiết kiệm chi phí nhiên liệu.

Kết luận

  • Xây dựng hoàn chỉnh bộ cơ sở dữ liệu kiểm kê phát thải hàng không cho 45 hãng bay hoạt động tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất.
  • Tiên phong ứng dụng thành công chuỗi mô hình AERMOD/AERMET/AERMAP để mô phỏng sự lan truyền 5 chất ô nhiễm chính trên lưới tính 5km x 5km.
  • Đánh giá thực trạng ô nhiễm nền tại 10 vị trí không khí và 14 điểm đo tiếng ồn, chỉ ra sự vượt chuẩn của bụi PM10 tại khu dân cư giáp đường giao thông ngoại vi.
  • Nhận diện NOx là khí ô nhiễm phát sinh lớn nhất trong chu trình cất hạ cánh cần các biện pháp giám sát đặc biệt.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý có tính ứng dụng cao nhằm hướng tới mô hình phát triển sân bay xanh.

Nghiên cứu mở ra hướng phát triển mở rộng mô hình cho các cảng hàng không lớn khác trên toàn quốc như Nội Bài hay Đà Nẵng. Các cơ quan quản lý và chuyên gia quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu để áp dụng phương pháp luận kiểm kê và mô hình hóa phát thải vào thực tiễn quản lý môi trường ngành giao thông vận tải.