phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng, hình và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chƣơng: 7 - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tín dụng và chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại - Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng và chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thanh Trì - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thanh Trì. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Tín dụng là một thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế.
Đặc biệt, trong nền kinh tế hiện đại, tín dụng đƣợc nhắc đến nhƣ là một giao dịch phổ biến, có mối liên quan chặt chẽ tới nhiều chủ thể trong nền kinh tế. Tuy nhiên, khó có thể đƣa ra một định nghĩa thống nhất tuyệt đối về tín dụng. Song hiểu một cách chung nhất, khái niệm tín dụng theo pháp luật Ngân hàng Việt Nam ghi nhận rằng: “Tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa bên cho vay (mượn) và bên đi vay (mượn). Theo đó bên cho vay chuyển giao một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) để bên vay sử dụng có thời hạn.
Khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn (tài sản) ban đầu và lãi suất”. Tuỳ theo từng góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể xác định những nội dung khác nhau của thuật ngữ này. Trong quan hệ tài chính cụ thể có thể hiểu: Tín dụng là giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả phần tài sản đã mƣợn cộng thêm một phần lợi tức theo thời hạn đã thoả thuận. Nhƣ vậy, trên thực tế, khái niệm tín dụng là một khái niệm bao trùm nhiều mối quan hệ của nhiều chủ thể trong nền kinh tế.
Đó có thể là mối quan hệ mua bán thƣơng mại trả chậm giữa ngƣời bán và ngƣời mua khi ngƣời bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo thoả thuận ngƣời mua phải trả tiền cho ngƣời bán. Đó có thể là mối quan hệ ứng tiền trƣớc trong các giao dịch kinh tế khi ngƣời mua thực hiện ứng một số tiền nhất định cho ngƣời bán và sau một thời gian nhất định theo quy định trong Hợp đồng ngƣời bán phải bàn giao hàng hoá/dịch vụ cho ngƣời mua. Trong hoạt động huy động vốn nhằm các mục đích của nhà nƣớc, tín dụng có thể hoạt động vay vốn từ nhân dân của Chính phủ 9 thông qua việc phát hành công trái sau một thời gian nhất định theo cam kết khi phát hành sẽ hoàn trả số tiền nhất định đã thoả thuận,. Tuy nhiên có thể nói giao dịch tín dụng phổ biến nhất, mang tính chủ đạo trong nền kinh tế hiện đại đó là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với các chủ thể trong nền kinh tế.
Mối quan hệ này đƣợc thể hiện dƣới hai góc độ: Một mặt dƣới tƣ cách là ngƣời đi vay, ngân hàng thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các tầng lớp dân cƣ, các tổ chức kinh tế xã hội và các tổ chức tín dụng khác. Mặt khác, trong tƣ cách của ngƣời cho vay, ngân hàng thực hiện cho vay lại đối với các chủ thể thiếu hụt vốn trong nền kinh tế. Nhƣ vậy, về mặt bản chất tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó, ngân hàng đóng vai trò vừa là ngƣời cho vay vừa là ngƣời đi vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thời thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng gửi tiền/Khách hàng vay là mức lợi tức mà ngân hàng phải trả cho ngƣời gửi tiền và khách hàng phải trả cho ngân hàng trong suốt thời gian tồn tại của khoản vay.
Dƣới góc độ nghiên cứu của luận văn, xem xét tín dụng nhƣ một chức năng cơ bản của ngân hàng thƣơng mại trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Tín dụng của ngân hàng thương mại là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng thương mại và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán. Các hình thức tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Việc nghiên cứu và phân loại các hình thức tín dụng của NHTM có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro. Việc phân loại khoản vay có thể dựa trên nhiều hình thức khác nhau. Căn cứ vào thời hạn và hình thức cấp tín dụng Tín dụng ngân hàng đƣợc chia làm 03 loại: tín dụng ngắn hạn, tín dụng dài hạn và tín dụng dài hạn.
Tín dụng ngắn hạn Tín dụng ngắn hạn là các khoản tín dụng có thời hạn tối đa là 12 tháng và đƣợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lƣu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Các hình thức cấp tín dụng chủ yếu đối với tín dụng ngắn hạn bao gồm: Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phƣơng thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận duy trì một hạn mức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định với các điều kiện nhất định về tổng thể hạn mức, thời gian duy trì hạn mức,. Trên cơ sở đó, ngân hàng và khách hàng thiết lập một hợp đồng tín dụng hạn mức và các hồ sơ kèm theo hạn mức tín dụng đó. Việc quản lý và sử dụng hạn mức đuợc thực hiện theo chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Từng lần giải ngân, trong trƣờng hợp khách hàng tuân thủ các điều kiện nhƣ đã thiết lập, ngân hàng thực hiện giải ngân cho khách hàng theo từng khế uớc nhận nợ, hạn chế các thủ tục vay vốn. Cho vay theo món: Là phƣơng thức cho vay dựa trên nhu cầu vốn của từng phƣơng án sản xuất kinh doanh của khách hàng, trong đó xác định rõ mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn cho vay, nguồn trả nợ,. Trên cơ sở đó ngân hàng và khách hàng thiết lập một hợp đồng tín dụng và các hồ sơ kèm theo món vay đó. Cho vay chiết khấu: Ngân hàng thực hiện chiết khấu, tạm chiết khấu các thƣơng phiếu chƣa đến hạn thanh toán giúp khách hàng thu hồi vốn nhanh, ngân hàng hƣởng lãi từ chênh lệch và hoa hồng phí giá thƣơng phiếu đƣợc thanh toán, khi đến hạn.
Khi thƣơng phiếu đến hạn trả, ngân hàng thu hồi nợ trực tiếp từ ngƣời mắc nợ ghi trên thƣơng phiếu. Bao thanh toán: Là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đã đƣợc bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp 11 đồng đƣợc bao thanh toán. Thấu chi trên khoản vãng lai: Ngân hàng cho phép khách hàng có thể rút hoặc thanh toán quá số dƣ trên khoản vãng lai trong một giới hạn và thời hạn thống nhất đã thoả thuận trƣớc. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ: Là hình thức ngân hàng thực hiện phát hành thẻ tín dụng với một hạn mức nhất định.
Khách hàng có thể sử dụng thẻ nêu trên để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các cơ sở bán hàng có chấp nhận thanh toán thẻ hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động trong phạm vi số tiền trong hạn mức. Đây là sản phẩm tín dụng của công nghệ hiện đại, là hình thức cấp tín dụng ngày càng trở nên phổ biến vì có nhiều ƣu điểm, nó mang lại tính tự chủ cao trong việc sử dụng tiền tín dụng nhằm mục đích tiêu dùng với thủ tục đơn giản. Tín dụng trung dài hạn Tín dụng trung hạn là các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Các khoản tín dụng này chủ yếu đƣợc sử dụng để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Bên cạnh đầu tƣ vào tài sản cố định, tín dụng trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lƣu động thƣờng xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập. Tín dụng dài hạn là các khoản tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Tín dụng dài hạn là các loại tín dụng đƣợc cấp để đáp ứng các nhu cầu đầu tƣ dài hạn nhƣ: xây dựng nhà ở, các thiết bị, phƣơng tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Các hình thức cấp tín dụng chủ yếu đối với tín dụng trung dài hạn bao gồm: Cho vay theo dự án đầu tƣ: Ngân hàng cho Khách hàng vay vốn nhằm thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển hoạt động kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống.
Dƣới hình thức cấp tín dụng này, ngân hàng thực hiện thẩm định tổng thể theo dự án đầu tƣ của Khách hàng và ký hợp đồng tín dụng tài trợ dự án trong đó quy định rõ tổng số tiền, đối tƣợng tài trợ, điều kiện và phƣơng thức giải ngân,. 12 việc giải ngân đƣợc thực hiện theo tiến độ thực hiện dự án. Cho vay thuê mua (thƣờng gọi là tín dụng thuê mua): Ngân hàng cam kết mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản. Bên thuê đƣợc sử dụng và khai thác công dụng của tài sản và hƣởng lợi từ tài sản đồng thời có nghĩa vụ trả tiền thuê trong suốt quá trình thuê.