Chương 1: Trình bày sơ lược các khái niệm sinh học, phát biểu bài toán cấu trúc chuỗi nguồn. Giới thiệu một vài thuật toán giải quyết bài toán, trình bày lại thuật toán RecBlock. Chương 2: Giới thiệu thuật toán Ant colony optimization (ACO) và một vài thuật toán cập nhật mùi khác nhau trong ACO. Ví dụ về bài toán người chào hàng giải quyết bằng thuật toán ACO.
Chương 3: Đề xuất thuật toán mới, đó là thuật toán Ant colony optimization (ACO) để giải quyết bài toán cấu trúc chuỗi nguồn. Đưa ba quy tắc cập nhật mùi khác nhau đó là ACS, MMAS, SMMAS để giải quyết bài toán. Chương 4: Đưa ra kết quả thực nghiệm của luận văn, so sánh kết quả của thuật toán ACO với các quy tắc cập nhật mùi khác nhau, so sánh kết quả của thuật toán ACO với thuật toán RecBlock. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 CHƢƠNG I.
BÀI TOÁN CẤU TRÚC CHUỖI NGUỒN 1. Một số khái niệm trong sinh học 1. Một số khái niệm về di truyền Nhiễm sắc thể: Là một cấu trúc trong tế bào chứa hai loại thông tin gồm chuỗi DNA và Protein. Trong đó chuỗi DNA mang thông tin di truyền xác định chức năng và đặc điểm của sinh vật, Protein quyết định đến chức năng và quá trình phát triển của sinh vật.
Tập hợp tất các nhiễm sắc thể của một sinh vật được gọi là hệ gen của sinh vật đó.1 Cấu trúc nhiễm sắc thể Chuỗi DNA (Deoxyribonucleic Acid): Là một chuỗi cấu trúc xoắn kép gồm hai sợi liên kết, bắt cặp với nhau (A-T, G-C). Trên mỗi một sợi được biểu diễn bởi một xâu kí tự chứa 4 loại kí tự: A,T,G,C (tên viết tắt của 4 loại nucleotide). Ví dụ, xâu kí tự “CAGTTGACGGCGAACCGTGCGAGCAGACGGTCGTT“ là một chuỗi DNA. Gen: Là một đoạn DNA mang thông tin hướng dẫn tổng hợp protein và có một vị trí nhất định trên nhiễm sắc thể.
Gen chịu trách nhiệm về những đặc điểm di truyền.2 Minh họa gen trên nhiễn sắc thể Alen: Các dạng khác nhau của một gen (không cùng xảy ra) nằm tại cùng một vị trí xác định trên một nhiễm sắc thể cụ thể. Locus: Vị trí riêng biệt của một đoạn DNA mang thông tin (hay còn gọi là gen) trên nhiễm sắc thể. Nhiều locus được gọi là loci. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 SNP: Được viết tắt của “single nucleotide polymorphism” được gọi là đa hình đơn nucleotide (đọc là sờ-níp ), là những biến thể trình tự DNA xảy ra khi một đơn nucleotide (A, T, C, hoặc G) trong trình tự bộ gen bị thay đổi.
Được minh họa bằng hình ảnh 1.3 Một đột biến điểm xảy ra trong phân tử DNA thay thế cặp nucleotide A- T bằng cặp nucleotide G-C Di truyền: là hiện tượng chuyển những tính trạng của cha mẹ cho con cái thông qua gen của bố mẹ. Trong sinh học, di truyền chuyển những đặc trưng sinh học từ một sinh vật cha mẹ đến con cái và nó đồng nghĩa với di chuyển gen, gen thừa nhận mang thông tin sinh học (hay thông tin di truyền). Thông tin di truyền: là các thông tin được mã hóa trong các bộ nucleotide, được di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở cấp độ phân tử thông qua các hoạt động nhân đôi DNA. Phép lai tạo: là quá trình hình thành nhiễm sắc thể (NST) mới trên cơ sở NST cha mẹ bằng cách ghép một hay nhiều đoạn gen của hai hay nhiều NST cha mẹ với nhau.
Quá trình đột biến DNA Theo thuyết tiến hóa của Darwin thì các loài sinh vật đều tiến hóa từ một tổ tiên chung [4]. Hệ gien của các sinh vật bị biến đổi theo thời gian trong quá trình tiến hóa dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau và có thể dẫn đến việc tạo ra các loài sinh vật mới. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Minh họa quá trình tiến hóa của các loài từ một tổ tiên chung Hai trình tự tương đồng: Hai trình tự DNA của hai sinh vật khác nhau gọi là tương đồng nếu như chúng cùng tiến hóa từ một trình tự DNA tổ tiên chung.
Quá trình đột biến của các trình tự DNA: Trong quá trình tiến hóa, các nucleotit trên trình tự DNA có thể bị đột biến. Ba phép đột biến là: đột biến thay thế, đột biến mất, đột biến thêm Hình 1. Quá trình đột biến giữa hai trình tự DNA Hình 1.5 minh họa quá trình đột biến của hai trình tự X = “AGGTGGT” và Y = “ACGGTGG” từ một trình tự DNA tổ tiên chung XY = “ACGGTGGT”. Các phép đột biến trên trình tự DNA trong quá trình tiến hóa sẽ làm cho hệ gien của các loài sinh vật khác nhau cả về nội dung cũng như độ dài.
Các cá thể của cùng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 một loài (ví dụ hai người) cũng có hệ gien khác nhau. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hệ gien của hai người vào khoảng 0. Chính sự khác biệt 0.1% này tạo ra sự khác biệt giữa hai người khác nhau. Đột biến giữa hai trình tự prôtêin: Các đột biến nuclêotít trên các trình tự DNA trong quá trình tiến hóa sẽ dẫn đến các đột biến trên các trình tự axít amin mà chúng mã hóa.
Các đột biến giữa hai trình tự prôtêin cũng có thể xuất hiện trong quá trình tổng hợp prôtêin từ các trình tự DNA. Ví dụ hai trình tự DNA X = “CCTGAGCCAATATTGATGAA” và Y = “CCGGAGCCAACTATTGTT" sẽ mã hóa hai prôtêin tương ứng X = “PEPTIDE” và Y = “PEPTV”. Khái quát về các Haplotype đƣợc tạo từ các tái tổ hợp Một haplotype của n vị trí là một chuỗi các nucleotide kích thước m. Nó mô hình một đoạn nhiễm sắc thể với sự đa hình do sự thay thế nucleotide, được gọi là đa hình đơn nucleotide (SNP).
SNPs trong một quần thể chỉ có hai nucleotide được quan sát thấy ở mỗi vị trí: các alen của tổ tiên và alen mới. Sự đa dạng của một Haplotype đại diện giống như một chuỗi các vị trí đa hình đơn trong trình tự DNA [12]. Trong quá trình tái tổ hợp các vị trí tăng lên theo cấp số nhân. Để tìm ra nguyên nhân của việc tái tổ hợp được so sánh với các vị trí đa hình và là vô cùng khó.
Tuy nhiên trong bộ gen của người mỗi Haplotype đều đa dạng và có những Haplotype chiếm ưu thế dùng để đại diện cho việc tìm ra những Haplotype tổ tiên. Khoảng cách giữa các thế hệ có thể giảm vì có thể tiến hành thực hiện xây dựng. Một sự tái tổ hợp giữa hai haplotype X và Y có thể được mô hình hóa như một hoạt động phá vỡ và trao đổi các phần đối diện của X và Y. Tức là nó là hoạt động của dạng: X5X3, Y5Y3 X5Y3, Y5X3 với X = X5X3, Y = Y5Y3 (biểu thị 5 và 3 là các phân đoạn của X và Y và X5, Y5 cũng như Y3, X3 có độ dài là giống nhau.
Trong mô hình của con người, chỉ có một trong các haplotype kết quả được truyền đi. Vì vậy, một sự tái tổ hợp có thể được biểu diễn như X, Y Z, Z là 1 tái tổ hợp. Cho C = {C1, C2, …, Ch} là một tập các Haplotype chung và R là một tái tổ hợp mới. Vấn đề là phải tìm một lộ trình tái tổ hợp tối thiểu (tối thiểu của chuỗi recombinations) tạo ra từ một tập hợp con CR của C.
Một tái tổ hợp X, Y Z trong 1 lộ trình như sau: X and/or Y trong CR hoặc được tạo từ tái tổ hợp trước đó của các phần tử CR. R là alen với C nếu và chỉ nếu, cho vị trí bất kỳ i trong R, có tồn tại một haplotype Ck của C như vậy mà R[i] = Ck[i]. Ở đây, cho bất kỳ haplotype X, X[i] biểu thị phần tử i của X. Ví dụ, các haplotype: R = C A C T T G A A C G Alen với C = {C1, C2, C3, C4, C5}: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 C1 = A C G T C T G A T T C2 = C A G A T G G A C G C3 = C C G A T G G C C G C4 = A A C T T T G A C T C5 = A C C T C G A A T G Nếu R không alen với C, R có thể không được tạo từ tái tổ hợp của C.
các vị trí không alen yêu cầu một đột biến mới. Ngược lại, được hiểu là R alen với C và R được tạo bằng các vị trí của tái tổ hợp C. Như vậy chúng ta thu được một tập các Hapotype như bảng (1. Mỗi haplotype là một xâu độ dài m của các ký tự {0, 1}.
Ký tự 0 biểu thị mã hóa alen dạng tự nhiên và ký tự 1 biểu thị alen dạng biến dị. Tập HAP tƣơng đƣơng với haplotype C Hk pos 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 HAP1 0 0 0 1 0 0 0 1 0 0 HAP2 1 1 0 0 1 1 0 1 1 1 HAP2 1 0 0 0 1 1 0 0 1 1 HAP4 0 1 1 1 1 0 0 1 1 0 HAP5 0 0 1 1 0 1 1 1 0 1 Khái niệm về điểm ngắt: Ngoài tế bào, các nhiễm sắc thể kết hợp trong các tế bào của con người. Có một NST từ bố, và một trong những NST khác từ phía của người mẹ. Nhưng thế hệ của NST trong quá trình chuyển giao không phải là tĩnh.
Trong quá trình hình thành trứng và tinh trùng, NST tái tổ hợp đó là sự tích tụ của các mảnh vỡ NST với nhau và trao đổi. Hai mảnh vỡ liên tiếp nhau không cùng một NST thì được gọi là điểm ngắt. Sau nhiều thế hệ, thông qua các sự kiện tái tổ hợp lặp đi lặp lại, các mảnh vỡ nhiễm sắc thể ban đầu của tổ tiên đã bị phá vỡ. Một số mảnh vỡ nhiễm sắc thể của tổ tiên trong các chuỗi DNA của nhiều thế hệ con cháu xuất hiện.
Những phần này là haplotype, nhà di truyền học có thể sử dụng nó để tìm kiếm bệnh hoặc gen liên quan đến đặc điểm quan trọng về mặt y khoa khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phát biểu bài toán cấu trúc chuỗi nguồn Trong nghiên cứu về sự tiến hóa, việc xây dựng lại cấu trúc chuỗi nguồn có một ý nghĩa lớn với lĩnh vực sinh học. Mục tiêu của bài toán là tìm ra chuỗi gen di truyền thích hợp được thiết lập để đạt được chuỗi di truyền của cá thể.
Việc thiết lập các chuỗi gen này được xem là mô hình của bài toán cấu trúc chuỗi nguồn, trong đó phải tìm ra bộ chuỗi gen mà mỗi cá thể của nó đều đạt được từ việc tái tạo chuỗi gen và giảm thiểu số lượng lai ghép.