Chương 1: Giới thiệu tổng quan về luận văn. Nội dung chương này thể hiện khái quát về đề tài bao gồm: lý do chọn để tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu trình bày của đề tài và tóm lược các bước nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước về các yếu tố tác động đến thanh khoản của các NHTM. Đó là những nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chương trình bày mô hình dự kiến và giải thích các biến được sử dụng trong mô hình, đưa ra giả thuyết và cách thức kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, thu thập và xử lý dữ liệu, đưa ra các mô hình được sử dụng cho dữ liệu bảng và cách thức kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp nhất, kết luận mô hình thực nghiệm từ đó đi đến kết quả nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu. Nội dung chương trình bày thống kê mô tả các biến, kiểm định lựa chọn mô hình và các khiếm khuyết định lượng, phân tích kết quả hồi quy thể hiện sự tác động của các biến thanh khoản, phân tích các kết quả nghiên cứu vừa tìm được.
Chương 5: Kết luận, hạn chế, mở rộng. Ngoài ra đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao thanh khoản của các NHTM cổ phần tại Việt Nam. CHUONG 2: TONG QUAN LY THUYET VA CAC NGHIEN CUU TRUOC DAY 2.1 TONG QUAN VE LINH VUC NGHIEN CUU 2. Khái niệm thanh khoản của ngân hàng thương mại Thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản và ngược lại.
Một tài sản được xem là có tính thanh khoản khi: Có thị trường giao dịch để có thể chuyển hóa tài sản thành tiền và; Có giá cá tương đối ổn định, không bị ảnh hưởng bởi số lượng và thời gian giao dịch. Như vậy, tính thanh khoản của tài sản được đo lường thông qua thời gian và chỉ phí để chuyền hóa tài sản thành tiền. Tài sản có tính thanh khoản cao là tài sản chuyển đổi thành tiền nhanh và chỉ phí thấp, thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn. Dưới góc độ ngân hàng, thanh khoản được hiểu là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chỉ trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, và các giao dịch tài chính khác.
Ủy ban Basel định nghĩa thanh khoản như sau: “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn khả dụng tại mọi thời điểm như thanh toán, chỉ trả tiền gửi, cho vay, các giao dich vén,.” Từ đó chúng ta có thể đưa ra định nghĩa cơ bản về thanh khoản như sau: “Thanh khoản là khả năng ngân hàng có thể thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức cho phép, vẫn đảm bảo hiệu quả hoạt động bình thường của ngân hàng”. Theo Duttweiler (2010), ngân hàng luôn phải duy trì lượng tài sản có lớn hơn tai san ng dé dam bao kha nang thanh toan tai moi thoi diém. Trong cac nguồn dự trữ thanh khoản của ngân hàng có hai nguồn quan trọng là: dự trữ sơ cấp và dự trữ thứ cấp. Dự trữ sơ cấp bao gồm: tiền mặt, tiền gửi NHNN, tiền gửi tại các TCTD, dự trữ thứ cấp gồm các loại chứng khoán có khả năng chuyền đổi thành tiền mặt nhanh chóng như: trái phiếu kho bạc, chứng khoán đầu tư ngắn hạn,.
Như vậy, đưới góc độ tài sản thì thanh khoản là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản đó, còn dưới góc độ là một ngân hàng thì thanh khoản là khả năng ngân hàng có thể đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chỉ trả tiền gửi, giải ngân các khoản cho vay, thanh toán, và các giao dịch tài chính khác. Trạng thái thanh khoản của ngân hàng Tại một thời điểm, ngân hàng lúc nào cũng có một trạng thái thanh khoản. Trạng thái thanh khoản của một ngân hàng được quyết định bởi các nguồn cung thanh khoản và các nguồn cầu thanh khoản của ngân hàng đó. Chênh lệch giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản chính là trạng thái thanh khoản của ngân hàng.
Nguồn cung thanh khoản của ngân hàng là nguồn cung tiền ngân hàng có sẵn hoặc là các nguồn cung khác mà chỉ trong một thời gian ngắn ngân hàng có thể chuyển đổi thành tiền. Các nguồn cung thanh khoản của ngân hàng bao gồm: Tiền đang có sẵn của ngân hàng; Các khoản tiền gửi của khách hàng; Doanh thu phí từ việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ; Các khoản thanh toán nợ vay của khách hàng; Khoản thu có được từ việc ngân hàng bán tài sản; Khoản thu có được do ngân hàng đi vay trên thị trường tiền tệ. Nguồn cầu thanh khoản của ngân hàng là các nguồn mà đòi hỏi ngân hàng phải sử dụng hay chỉ trả ngay lập tức hoặc trong một thời gian ngắn. Các nguồn cầu thanh khoản bao gồm: Yêu cầu rút tiền từ tài khoản của khách hàng; Yêu cầu giải ngân của các hợp đồng tín dụng đã được ký kết; Yêu cầu vay vốn của các khách hàng truyền thống hay khách hàng có chất lượng tín dụng cao; Thanh toán các khoản vay đến hạn trên thị trường tiền tệ; Chi phí bằng tiền và thuế phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng; Thanh toán cô tức bằng tiên.
Khái niệm rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro thường trực của bất kỳ ngân hàng nào, bởi đặc tính chủ yếu của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ, đùng nguồn tiền huy động để cho vay và luôn tạo ra sự chênh lệch kỳ hạn của các dòng vốn. Vì vậy nếu không có một chính sách quản trị thanh khoản tốt ngân hàng rất đễ tổn thương trước những tác động mạnh của thị trường, gây ra rủi ro thanh khoản. Từ định nghĩa thanh khoản, thì rủi ro thanh khoản là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chỉ phí cao để đáp ứng khả năng thanh toán, hoặc đo các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của ngân hàng, từ đó kéo theo những hậu quả không mong muốn (Duttweiler, 2010) Theo định nghĩa của Ủy ban Basel “Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh hàng ngày”. Thông tư 08/2017/TT-NHNN ngày 01/08/2017 cũng đưa ra định nghĩa rủi ro thanh khoản là khi ngân hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chỉ phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó.
Tại một thời điểm, trạng thái thanh khoản dù là thừa thanh khoản (cung thanh khoản lớn hơn cầu thanh khoản) hay thâm hụt thanh khoản (cung thanh khoản nhỏ hơn cầu thanh khoản) của ngân hàng chưa phải là rủi ro, rủi ro thanh khoản phát sinh khi ngân hàng đang ở trạng thái thâm hụt thanh khoản nhưng phải đối mặt với với các nghĩa vụ tài chính lúc này ngân hàng không đủ nguồn lực đề đáp ứng được các nghĩa vụ đó một cách tức thời và ngân hàng phải tăng nguồn cung thanh khoản một cách bắt buộc như huy động vốn bổ sung với chỉ phí cao hoặc bán gấp các tai sản với giá thấp. Điều này đưa đến tốn thất cho ngân hàng. Mặt khác đề đối phó với nghĩa vụ tài chính phát sinh ngân hàng luôn phải duy trì một mức thừa thanh khoản và ngân hàng buộc phải đánh đổi giữa khả năng sinh lợi của tài sản và sự duy trì mức thừa thanh khoản này. Điều này cũng đưa đến sự tốn thất lợi ích cho ngân hàng.
Vì vậy nhà quản trị cần xác định mức dự trữ thanh khoản hợp lý dựa trên các phương pháp đo lường thanh khoản hiệu quả. Nguyên nhân rủi ro thanh khoản Có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng, trong bài nghiên cứu này, tác giả chia thành nguyên nhân từ phía ngân hàng và nguyên nhân bên ngoài: 2. Nguyên nhân từ phía ngân hàng: Ngân hàng có chính sách quản lý thanh khoản chưa hiệu quả, không dự tính được nhu cầu rút tiền mặt và các nghĩa vụ phải trả tiền dẫn đến mất khả năng thanh toán. Mất cân xứng kỳ hạn của dòng tiền: ngân hàng sử dụng khoản tiền gửi ngắn hạn để cho vay đài hạn, dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán khi đến hạn của các tài sản nợ khi không kịp tìm được nguồn vốn bù đắp.
Cơ cấu khách hàng không hợp lý: khi ngân hàng quá tập trung vào một số khách hàng lớn, một ngành, lĩnh vực hoặc địa phương nào đó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đư nợ cho vay hoặc tổng huy động thì khi những khách hàng này gặp khó khăn không trả được nợ hoặc rút vốn một cách bất ngờ ngân hàng sẽ dễ mắt khả năng thanh toán. Ngân hàng với mục tiêu lợi nhuận hoặc rủi ro đạo đức trong quá trình cho vay dẫn đến hạ thấp các tiêu chuẩn cho vay, nguồn khách hàng kém tin cậy, dễ dẫn đến rủi ro tín dụng và kéo theo rủi ro thanh khoản. Ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo, nếu có dấu hiệu mất khả năng thanh toán sẽ làm mất niềm tin của đân chúng vào ngân hàng, nếu ngân hàng không giải quyết ngay khó khăn này, khách hàng có thể kéo đến rút tiền làm cho vấn đề thanh khoản trở nên tram trọng hơn. Nguyên nhân bên ngoài: Do sự nhạy cảm của tài sản tài chính với lãi suất.
Khi lãi suất tăng, người gửi tiền sẽ muốn rút vốn đề gửi nơi có lãi suất cao hon, còn người vay sẽ giảm vay vốn hoặc muốn rút hết số dư hạn mức tín dụng như lãi suất đã thỏa thuận. Còn khi lãi suất giảm thì ngược lại. Như vậy sự thay đổi của lãi suất ảnh hưởng đến cả tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng, làm mất cân xứng về nguồn vốn dẫn đến rủi ro thanh khoản. Ngoài ra, sự thay đổi của lãi suất còn ảnh hưởng đến giá cả của các tài sản tài chính mua bán trên thị trường và chỉ phí vay vốn trên thị trường liên ngân hàng.