đặt vấn đề về vị trí, quy mô, giới hạn của HTTL, nghiên cứu về vị trí của núi Nùng, núi Sưa ở đâu… đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm lý giải. Cuối thập kỷ 90 của Tk XX, các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật với quy mô nhỏ ở các vị trí Đoan Môn, Hậu Lâu bước đầu tìm thấy di tích kiến trúc cổ thời Lý - Trần - Lê. Di tích khai quật với diện tích nhỏ này hiện nay vẫn được bảo tồn để trưng bày ngoài trời phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu. Kể từ cuối thập kỷ 90 của Tk XX, di tích Thành cổ bắt đầu được giới khoa học và dư luận quan tâm.
Nhưng phải đến khi thực sự phát lộ khu di tích 18 Hoàng Diệu (2002), thì vấn đề nghiên cứu về HTTL mới trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà sử học nói riêng và các nhà văn hóa học, khoa học xã hội nói chung. Cho đến nay, số lượng các công trình khoa học nghiên cứu về HTTL lên đến hàng trăm bài, liên quan đến nhiều lĩnh vực nghiên cứu như: Khảo cổ học, Hán Nôm học, Sử học, Văn hóa học, Môi trường học, Sử liệu học, Kiến trúc, Điêu khắc …Tuy nhiên, những lĩnh vực nghiên cứu trên hầu hết được tiến hành theo phương pháp của một chuyên ngành chuyên biệt nhất định mà chưa có những nghiên cứu về sử liệu học về quy mô cấu trúc HTTL. HTTL nằm trong một vùng đất cổ của vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng có lịch sử định cư, khai phá của con người cách đây mấy ngàn năm. Tại khu vực Đàn Xã Tắc, gần HTTL đã từng phát hiện dấu tích cư trú của cư dân văn hóa Phùng Nguyên.
Theo GS Phan Huy Lê: “Khu di tích nằm trong địa bàn trung tâm lịch sử và văn hóa thủ đô Hà Nội. Trong khu vực này, khảo cổ học đã phát hiện dấu tích cư trú sớm nhất của con người qua di tích văn hóa Phùng Nguyên tại lớp dưới của di tích đàn Xã Tắc (Đống Đa, Hà Nội) có niên địa khoảng giữa thiên niên kỳ II BC, 17 c trên một gò đất cao” [111 ; 11]. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, khu vực Hà Nội là nơi tụ cư, sinh sống của nhiều tầng lớp cư dân. Thăng Long - Hà Nội cũng là cái nôi của nền văn minh Sông Hồng.
TRong giai đoạn 1000 năm Bắc thuộc, Thăng Long- Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nhà nước độc lập thời Lý Nam Đế với thành Vạn Xuân, rồi phủ thành Tống Bình, An Nam Đô Hộ Phủ thời Đường (Tk VII - IX) và trực tiếp là thành Đại La của Cao Biền. Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ đã viết: Hống chi thành Đại La ở vào vị trí trung tâm của trời đất, đúng vị trí Nam, Bắc, Đông, Tây, tiện thế rồng cuộn hổ ngồi… Quá trình sử dụng các nguồn sử liệu để nghiên cứu về quy mô kiến trúc HTTL có thể chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn trước khi phát lộ lớn về khu khai quật 18 Hoàng Diệu (trước 2002) và giai đoạn 2 sau khi phát hiện khu vực 18 Hoàng Diệu (từ 2002 đến nay). Các nghiên cứu từ đầu cho đến trước 2002. Các nghiên cứu từ năm 2002 đến nay.
Các nghiên cứu trước năm 2002 Các nghiên cứu về quy mô, cấu trúc của HTTL có thể kể đến những nghiên cứu tương đối sớm thuộc về các học giả người Pháp. Như chúng ta đã biết, thành Hà Nội bị phá hủy để xây dựng các khu phố xung quanh như đường Hoàng Diệu (Khi đó là đường VictoHuygo), đường Phan Đình Phùng (khi đó là đường Casno), để rồi các dấu tích của thành Hà Nội vĩnh viễn không còn nữa ngoài một vài điểm di tích như Cột cờ (phía Nam) và dấu tích thành Cửa Bắc đường Phan Đình Phùng (phía Bắc). Trong thời gian nửa đầu Tk XX có các nghiên cứu của Barbonneau, L. Bezacier trong cuốn sách nổi tiếng Le Art Vietnamien - Nghệ thuật Việt Nam, xuất bản năm 1955, tác giả đã so sánh những di vật tìm thấy trong Nội thành Hà Nội và khu vực Quần Ngựa với những hiện vật thời Lý được tìm thấy tại một số địa điểm ở tỉnh Bắc Ninh.
Song, tác giả có một nhầm lẫn về mặt thuật ngữ và niên đại, các sản phẩm thời Lý - Trần tìm thấy ở khu vực thành Hà Nội nhưng L. Bezacier đã gọi bằng thuật ngữ chung là “Nghệ thuật Đại La” (Tk IX - XI). Riêng về vị trí cung điện của triều Lý và triều Trần, các ý kiến của Parmentier và Mercier cho rằng các 18 c cung điện thời Lê được làm chồng lên trên các di tích cung điện thời Lý, Trần. Còn khu vực phía Tây HTTL là khu vực Quần Ngựa có thể là các cung (Hí cung) (Palais de Plaisance) của Hoàng đế.
Tiếp sau các nhà nghiên cứu người Pháp, GS Trần Quốc Vượng trogn bài viết: “Địa lý lịch sử miền Hà Nội (trước thế kỷ XI) [216] đăng trên tạp chí NCLS đã nghiên cứu một loạt các thành Long Biên, Tống Bình, Đại La của Cao Biền. Riêng về quy mô thành Đại La, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “Chu vi của thành khoảng km2, vậy nó chiếm một diện tích vào khoảng trên dưới 2 km², trung tâm đại để có thể là miền Quần Ngựa, mặt Tây giáp sông Tô Lịch, mặt Bắc giáp sông Hồng, phía Đông có thể tới gần vườn Bách Thảo ngày nay, phía Nam có thể tới đường Đội Cấn ngày nay [216; 47- 57]. Như vậy, vào thời điểm năm 1959, GS Trần Quốc Vượng cho rằng trung tâm của thành Đại La có thể là khu vực Quần Ngựa chứ không phải là khu vực HTTL hiện nay. Về vị trí của trung tâm thành Lũy thời thuộc Đường, GS Trần Quốc Vượng viết: “Trong tình hình hiện nay, chưa có thể xác định một cách chắc chắn các thành lũy nói trên của đời thuộc Đường”.
Cuối bài viết, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: Để việc giao thông cho thuận tiện, đặc biệt sau khi sông Tô Lịch bị cạn… “Cuối cùng đến đời Lê người ta đã phải dời thành về phía Đông thành Đại La (Thăng Long) cũ, tức là thành ngày nay, góc Đông Bắc của thành cắt với con đê cũ của Hà Nội. Như vậy, để cho Kinh thành ở ngay cạnh sông, giao thông cho dễ dàng” [216; 47- 57 ]. Trong những năm đầu thập kỷ 60 của Tk XX, nhiều nhà nghiên cứu như: Biệt Lam Trần Huy Bá, Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán… đã để tâm nghiên cứu về vị trí Thành Hà Nội và các di tích núi Cung, núi Nùng, Núi Sưa… tạo cho không khí học thuật khá sôi nổi. Các cuộc khai quật khảo cổ học tại các địa điểm khác thuộc khu vực ngoài HTTL (hiện nay) đã được các nhà khảo cổ học tiến hành ở nhiều nơi như ở Tây Nam núi Cung (1970- 1971); Đồng Gạch - Đồng Giếng (1972); khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1973), thám sát khu vực chùa Chân Giáo (1978), khai quật chữa cháy ở khu vực Ngọc Khánh … Đặc biệt là khai quật thăm dò với 19 c diện tích nhỏ khu vực Đoan Môn, Hậu Lâu, Bắc Môn đã tìm thấy nhiều hiện vật quý thời Lý - Trần - Lê với chân tảng, đồ gốm sứ, đường đi lát gạch hoa chanh gây sự quan tâm cho các nhà nghiên cứu.
Tuy nhiên, về quy mô, cấu trúc HTTL chưa được nghiên cứu nhiều. Các nghiên cứu từ năm 2002 đến nay Ngay từ khi phát lộ khu di tích HTTL, các cơ quan chức năng đã tổ chức nhiều cuộc Tọa đàm, Hội thảo tập trung đông đảo các nhà Khoa học của cả nước đầu tư công sức, trí tuệ nghiên cứu. Các cuộc hội thảo do Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Văn hóa Thông tin và Bộ Xây dựng tổ chức. Đặc biệt là Hội nghị Khoa học Toàn quốc do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức ngày 19 - 20/8/2004, Hội thảo Tư vấn Quốc tế do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Văn phòng UNESCO tại Hà Nội tổ chức ngày 10 - 11/8/2004 và Hội nghị ngày 18/2/2006 do Bộ Văn hóa Thông tin tổ chức… Tuy phát hiện từ 2002 nhưng để có được nhận định khoa học thì phải đợi thêm một thời gian sau khi đã phát lộ khai quật được một không gian rộng, đồng thời cần phải có thời gian chỉnh lý, nghiên cứu tư liệu.
Vì vậy, phải đến khoảng năm 2007 trở đi những nghiên cứu bước đầu về quy mô, cấu trúc HTTL mới được công bố, đánh giá, nhận định. Thậm chí, những nghiên cứu công bố mới chỉ là những tiếp cận ban đầu, đúng như lời mở của Tòa soạn Tc KCH đặt lời dẫn cho bài viết: “Bước đầu nghiên cứu trang trí trên ngói ở Hoàng thành Thăng Long qua tư liệu hố D4- D5- D6 (khu D) ở 18 Hoàng Diệu- Hà Nội”: “Nghiên cứu chỉnh lý khu di tích HTTL tại 18 Hoàng Diệu do viện Khảo cổ học chủ trì là một công trình tiến hành lâu dài trong nhiều năm tới (. Đây chỉ là một diện tích nhỏ đối với một khối tư liệu khổng lồ mà cuộc khai quật đạt được. Cho nên, kết quả này chắc chắn sẽ thay đổi khi toàn bộ công tác chỉnh lý được hoàn tất [101; 88].
Trong kết luận, các tác giả viết: “Kết quả khai quật ở các hố D4, D5, D6 đã tìm thấy ngói và các bộ phận trang trí trên ngói số lượng nhiều, loại hình khá phong phú (. Trang trí trên ngói ở ba hố D4 - D5 - D6 góp phần tìm hiểu kiến trúc Thăng Long, mỹ thuật Thăng Long 20 c và góp phần định vị vị trí của địa điểm khảo cổ học 18 Hoàng Diệu trong quy hoạch tổng thể của Kinh Thành Thăng Long xưa” [101; 107]. Nghiên cứu trực tiếp nhận định về quy mô, cấu trúc HTTL trong suốt các triều đại, Lý - Trần - Lê sơ - Mạc và Lê Trung Hưng. Phan Huy Lê trong bài: “ Càng nghiên cứu, càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu” đăng trên tạp chí Khảo cổ học, cho rằng quy mô La Thành và HTTL suốt các thời kỳ từ Lý đến Trần và Lê có sự thay đổi nhưng về Cấm thành hầu như không có sự thay đổi: “Khu di tích ngay từ khi mới phát hiện được xác định nằm trong HTTL thì dần dần được xác định cụ thể hơn là nằm trong Cấm thành tức trung tâm của Hoàng thành, Kinh thành Thăng Long gồm ba vòng thành: Đại La, Hoàng thành (tên dùng từ thời Lê sơ) và Cấm thành.