CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH 1. Quan niệm cơ bản về du lịch 1. Khái niệm về du lịch và ngành du lịch a, Du lịch: Du lịch (DL) là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp. Trong quá trình phát triển, nội dung hoạt động của nó không ngừng mở rộng và ngày càng phong phú.
Khái niệm về du lịch không mới, có thể nói du lịch hình thành từ thời kỳ cổ đại, vào thế kỷ VIII trước Công nguyên - các cuộc hành hương của người Hy Lạp về đỉnh Olympus. Tuy nhiên với những cách tiếp cận khác nhau hay các cách hiểu khác nhau về du lịch ở các nước khác nhau cũng như tính chất đặc thù của hoạt động du lịch mà cho tới nay trên thế giới chưa có sự thống nhất về khái niệm chung về du lịch. Theo định nghĩa của tổ chức du lịch tế giới WTO (World Tourist Organization) một tổ chức của Liên Hợp Quốc "Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm" [11]. Du lịch là đi đến một nơi khác xa nơi thường trú, để giải trí, nghỉ dưỡng… trong thời gian nhàn rỗi.
Du lịch bao gồm mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà mục đích chính là kiếm tiền.[13] Theo luật du lịch Việt Nam năm 2005, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.[17] 6 b, Ngành du lịch: Ngành Du lịch được xem là ngành lớn nhất trên thế giới. Nó bao gồm một số lượng khổng lồ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, và gồm cả những tập đoàn đa quốc gia rất lớn mà điều khiển sự tăng lên tỷ lệ phần trăm của cả thị trường. Nó chiếm một số lượng lớn nhân viên bao gồm cả các nhà điều hành du lịch, các văn phòng du lịch những người mà tập trung các chuyến; các nhân viên phục vụ trên máy bay và tàu thuỷ; tài xế lái xe; nhân viên của các khách sạn lớn và những nhà nghỉ gia đình; những người thợ thủ công mỹ nghệ và tất cả những người cung cấp các dịch vụ và trang thiết bị cho du khách khác. Sự phức tạp của ngành này chỉ ra những thách thức có thể đối với nhân viên và cộng đồng địa phương để học và xây dựng các mối quan hệ với ngành du lịch.
Khái niệm về khách du lịch và phân loại khách du lịch Khách du lịch: Để có định nghĩa khách du lịch ta có thể đi từ định nghĩa khách thăm viếng như sau: Khách thăm viếng là một người đi tới một nơi khác với nơi họ thường trú, với một lý do nào đó (ngoại trừ lý do đến để hành nghề và lĩnh lương từ nơi đó). Định nghĩa này có thể được áp dụng cho khách quốc tế và khách trong nước. - Khách quốc tế: Khách du lịch quốc tế là "Những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của một nước đang thường trú đến một nước khác trong thời gian ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động nhằm thu được thù lao ở nơi đến". Bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi nước người đó cư trú thường xuyên và ngoài môi trường sống thường xuyên của họ với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để được nhận thù lao.
- Khách trong nước: Khách thăm quan du lịch trong nước là "Những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình ở trong nước với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng cùng các mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các công việc nhằm thu được thù lao ở nơi đến". Bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của họ và trong phạm 7 vi nước sở tại với thời gian liên tục dưới 12 tháng và mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để dược nhận thù lao[13] 1. Tài nguyên du lịch và tiềm năng du lịch a , Khái niệm về Tài nguyên du lịch Theo Điều 4 Luật du lịch năm 2005: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành nên khu du lịch, điểm du lịch , tuyến du lịch, đô thị du lịch.’’[17] b , Khái niệm về tiềm năng du lịch Theo từ điển tiếng Việt thì “tiềm năng” có nghĩa là: Khả năng, năng lực tiềm tàng, những thế mạnh còn chưa được biết đến, chưa được khai thác. Còn “tiềm tàng” lại có nghĩa là trạng thái ẩn giấu bên trong chưa bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực (nguồn sức mạnh tiềm tàng, khai thác những khả năng tiềm tàng.
Tiềm năng là một thuật ngữ mang tính khá trừu tượng, chúng ta có thể hiểu “tiềm năng” là khả năng, năng lực ẩn giấu có thể khai thác được theo mục đích nào đó.[29] Trong hoạt động du lịch, khái niệm về tiềm năng du lịch được nhiều giáo trình định nghĩa. Trên khía cạnh có tính học thuật khái quát thì tiềm năng du lịch là: “Những tài nguyên du lịch chưa khai thác hoặc chưa được khai thác hết, cần phải có thời gian và tiền bạc để đầu tư tôn tạo và đưa vào sử dụng”. Người ta phân chia tiềm năng du lịch theo các loại hình sau: Tiềm năng ở dạng tài nguyên tự nhiên; tiềm năng ở dạng lịch sử; tiềm năng ở những công trình đương đại xuất hiện do quá trình xây dựng kinh tế và văn hoá đã và đang diễn ra. Tiềm năng còn có ở phần nguồn khách du lịch như các thị trường tiềm năng chưa khai thác[13] Phân loại tiềm năng du lịch Cơ sở để phân loại tiềm năng du lịch: Dựa vào đặc tính và nguồn gốc của tài nguyên để phân loại.
8 - Tiềm năng du lịch tự nhiên (rừng, hang, động, rặng san hô, hồ nước, bãi biển, đảo, khí hậu. Tiềm năng du lịch tự nhiên thường là các loại tài nguyên sẵn có trong tự nhiên, và thường rất khó phục hồi lại như cũ nếu như chúng bị khai thác quá giới hạn cho phép hoặc bị các tác động từ phía du khách hoặc các thành phần tham gia phục vụ du lịch làm cho biến đổi so với hình dạng ban đầu của nó. - Tiềm năng nhân văn (nhân văn phi vật thể, nhân văn vật thể.) khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên du lịch có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra. Theo quan điểm chung được chấp nhận hiện nay, toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra đều được coi là những sản phẩm văn hoá.
Không phải sản phẩm văn hoá nào cũng đều là những sản phẩm du lịch nhân văn, chỉ những sản phẩm văn hoá nào có giá trị phục vụ du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch nhân văn. Quản Lý, khai thác tài nguyên du lịch và tiềm năng du lịch 1. Quản lý, khai thác tài nguyên du lịch Để quản lý khai thác và bảo vệ hiệu quả tài nguyên du lịch cần đánh giá hiện trạng khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo ngành và theo lãnh thổ, đưa ra một số nguyên tắc khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng phát triển bền vững. Quản lý, khai thác và bảo vệ hiệu quả tài nguyên du lịch dựa trên số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo, bảo vệ; số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch; áp lực môi trường tại các khu, điểm du lịch được quản lý; cường độ hoạt động tại các khu, điểm du lịch được quản lý; mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho nỗ lực bảo tồn phát triển tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Ban hành các văn bản luật từ Trung ương đến địa phương để quản lý và khai thác tài nguyên du lịch đảm bảo tính hiệu quả. Dựa trên cơ sở quy hoạch tổng thể du lịch, quy hoạch các vùng, các khu du lịch đã được phê duyệt. 9 Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại các các Quyết định số: 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 và 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013, theo đó trong giai đoạn phát triển mới, du lịch Việt Nam sẽ ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh thông qua việc tập trung đầu tư phát triển các khu du lịch quốc gia, đặc biệt là các khu du lịch quốc gia ở các trọng điểm du lịch trong đó có vùng Duyên hải Đông Bắc với trọng tâm là Hạ Long - Cát Bà; chú trọng hiệu quả tăng trưởng và ưu tiên phát triển du lịch biển theo hướng bền vững. Đây sẽ là định hướng quan trọng để các địa phương, đặc biệt là các địa phương vùng ven biển, trong đó có Hải Phòng nói chung và Cát Bà nói riêng phát triển du lịch trong giai đoạn mới.[25] - Đề án phát triển du lịch biển Việt Nam đến năm 2020 đã được phê duyệt với mục tiêu phát triển bền vững với các loại hình du lịch sinh thái biển đảo, cảnh quan di sản vũng vịnh - biển đảo và du lịch văn hóa, lễ hội, làng nghề truyền thống vùng ven biển.
+ Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.[24] + Quyết định số 742/QG-TTg ngày 26/05/2010 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến 2020 trong đó có đảo Cát Bà.