Chương 1 LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại quyền sở hữu trí tuệ 1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ Trí tuệ là khả năng nhận thức lí tính đạt đến một trình độ nhất định.
Thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” được dùng để chỉ các loại quyền tài sản bắt nguồn từ những thành quả sáng tạo trí tuệ của con người. Thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” trong Công ước Thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới chưa có được một định nghĩa chính thức. Các quốc gia thành viên soạn thảo Công ước Công ước Thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới được ký tại Stockholm vào ngày 14 tháng 7 năm 1967 lựa chọn cách đưa ra một danh mục mang tính liệt kê các quyền liên quan quy định tại Khoản viii, Điều 2: “Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và các chương trình phát thanh truyền hình; các sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, các phát minh khoa học; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh; và “tất cả các quyền khác bắt nguồn từ hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học và văn học hoặc nghệ thuật” (Khoản viii, Điều 2). Theo Từ điển Tiếng việt, khái niệm quyền sở hữu trí tuệ là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ” [45].
Hiện nay, pháp luật các nước không định nghĩa thế nào là quyền SHTT mà chỉ liệt kê các đối tượng của quyền SHTT. Ví dụ như pháp luật của Hoa Kỳ không định nghĩa quyền SHTT mà chỉ quy định cụ thể về từng đối tượng của quyền SHTT. Bộ luật Hoa Kỳ năm 1996 (United States Code 1996) dành hẳn Quyển 7, Chương 58 để đưa ra quy định về bảo hộ giống cây trồng; Quyển 15, chương 22 về nhãn hiệu; toàn bộ Quyển 17 về quyền tác giả; Quyển 35 về văn bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp [27]. Hiệp định TRIPS dành toàn bộ phần II để nêu ra các đối tượng của quyền SHTT, gồm quyền tác giả, quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, patent (văn bằng bảo hộ sáng chế), giống cây 7 n trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin bị mất và giúp chống các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh [20].
Sở dĩ các quốc gia không đưa ra định nghĩa quyền SHTT vì các đối tượng của SHTT luôn thay đổi. Trong môi trường kinh doanh toàn cầu hóa, thị trường ngày càng đông đúc, khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng con người đã tạo ra nhiều sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện đại nên đưa ra định nghĩa về SHTT thì định nghĩa sẽ nhanh chóng lỗi thời. Do đó, pháp luật về quyền SHTT của nhiều nước quy định định nghĩa bằng cách liệt kê các đối tượng của tài sản trí tuệ. Theo pháp luật Việt Nam, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2019 Luật SHTT quy định: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”.
Như vậy, quyền SHTT bao gồm các quyền sở hữu đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, tác phẩm khoa học, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và giống cây trồng. Đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ Theo quy định cuả pháp luật, quyền SHTT là một loại quyền tài sản. Quyền SHTT có những đặc điểm sau: - Quyền sở hữu trí tuệ mang tính chất vô hình SHTT là loại tài sản vô hình, phi vật chất không thể nhìn thấy bằng mắt thường nên chủ sở hữu của loại tài sản này sẽ giữ quyên, không nắm giữ vật như những loại tài sản hữu hình khác. Khác với các loại tài sản hữu hình, chủ sở hữu có đủ ba quyền gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt, pháp luật về quyền SHTT không quy định gì về quyền chiếm hữu.
Điều này xuất phát từ đặc tính vô hình của các đối tượng SHTT. Chúng ta không thể nắm bắt, chiếm hữu được các kiến thức về một giải pháp kỹ thuật hay một kinh doanh công nghệ. Chỉ có một cách duy nhất để chiếm hữu chúng là giữ bí mật kiến thức đó. Một khi kiến thức được công bố, phổ biến thì bất cứ ai cũng có khả năng sử dụng và bắt chước theo.
Chính vì điểm đặc thù này nên nếu các kiến 8 n thức đó không được pháp luật bảo hộ, thì sẽ dẫn đến hậu quả là không ai chịu phổ biến các bí quyết mà mình biết, mà hậu quả là trình độ khoa học kỹ thuật không phát triển được. Ngoài ra, mặc dù quyền SHTT là tài sản vô hình nhưng nó thường có vai trò quan trọng và có giá trị kinh tế lớn, thậm chí loại tài sản này có khả năng làm thay đổi vị thế của chủ sở hữu trên thương trường, hoặc quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp [19]. - Quyền SHTT bị giới hạn về thời hạn bảo hộ Sự bảo hộ độc quyền của loại tài sản này bị khống chế bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định. Theo Luật SHTT của Việt Nam, quyền tài sản của các tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời gian bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời gian bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình.
Quyền sở hữu công nghiệp, ngoại trừ các đối tượng như tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh sẽ được pháp luật SHTT bảo hộ vô thời hạn khi những đối tượng này thỏa mãn các điều kiện theo như quy định của Luật SHTT; các đối tượng sở hữu công nghiệp khác chỉ được pháp luật bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định. Một trong những lý do quyền SHTT bị khống chế như vậy là để đảm bảo nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu tài sản SHTT và lợi ích xã hội bởi tài sản SHTT được con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của nhân loại được tốt hơn, do đó chủ sở hữu, sau một khoảng thời gian được độc quyền sử dụng như khai thác giá trị thương mại của tài sản trí tuệ do mình tạo ra, thì sản phẩm trí tuệ ấy phải được nhân loại sử dụng thì mới có ý nghĩa [19]. - Quyền SHTT có tính lãnh thổ triệt để và bị giới hạn về không gian bảo hộ Sự giới hạn bảo hộ và thực thi quyền trong phạm vi lãnh thổ mỗi quốc gia cũng là một đặc điểm của loại tài sản này. Xuất phát từ điểm đặc thù này nên tất cả các đối tượng SHTT ở lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan và các đối tượng SHTT ở lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp sau khi được pháp 9 n luật của một số quốc gia nhất định ghi nhận hoặc công nhận bảo hộ, thì các quyền SHTT chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó [27].
Nội dung quyền sở hữu trí tuệ Quyền SHTT là một loại quyền dân sự, các tác giả đồng thời là chủ sở hữu của các loại tài sản này được pháp luật bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản. Trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu hai quyền này sẽ tách bạch giữa tác giả và chủ sở hữu. Quyền nhân thân được pháp luật trao cho các tác giả sáng tạo ra những đối tượng SHTT được bảo hộ trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật hay kỹ thuật. Quyền nhân thân được pháp luật bảo hộ vô thời hạn (trừ quyền công bố tác phẩm) như quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền được đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, quyền được bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, quyền được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền sở hữu công nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.
Quyền tài sản là những quyền được pháp luật trao cho chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp các đối tượng SHTT của mình. Hiện nay pháp luật của Việt Nam chỉ bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các đối tượng quyền ở lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan, quyền đối với giống cây trồng và một số đối tượng thuộc lĩnh vực sở hữu công nghiệp như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn. Các đối tượng sở hữu công nghiệp khác như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh, pháp luật chỉ bảo hộ quyền tài sản, không bảo hộ quyền nhân thân - Chủ sở hữu quyền SHTT có quyền độc quyền sử dụng đối tượng SHTT dưới những hình thức do pháp luật quy định Sử dụng đối tượng SHTT có thể được hiểu một cách đơn giản nhất là việc chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp quyền SHTT ứng dụng các đối tượng SHTT được pháp luật bảo hộ của mình vào cuộc sống, vào việc sản xuất, kinh doanh. Khai thác quyền SHTT là việc chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp quyền SHTT tiến hành khai thác các giá trị thương mại của các đối tượng quyền SHTT thông qua các hoạt động như việc sử dụng các đối 10 n tượng SHTT trong sản xuất, kinh doanh, chuyển giao quyền SHTT; chuyển giao quyền sử dụng, quyền sở hữu, nhượng quyền thương mại, chuyển giao công nghệ, góp vốn, hợp tác kinh doanh bằng quyền SHTT…Sau khi sản phẩm trí tuệ được pháp luật bảo hộ, chỉ có chủ thể quyền SHTT mới có quyền khai thác thương mại các đối tượng của mình vào cuộc sống, chỉ có họ mới có quyền chuyển giao, chuyển nhượng quyền của mình.