CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học, giáo dục, trong đó có các thuật ngữ mang cùng ý nghĩa được sử dụng thay thế có thể kể đến như công nghệ (Technology), công nghệ thông tin và truyền thông - CNTT&TT (Information - Communication and Technology, ICT) … Sau đây, luận văn xin trình bày tổng quan một số vấn đề liên quan đến đề tài. Các nghiên cứu về thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học 1.
Trong dạy học nói chung - Về cách thức ứng dụng: Nghiên cứu của Nguyễn Văn Long (2016) đăng trên Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội (Tập 32, số 2-2016, tr.36-47) đã phân tích nhu cầu thực tiễn và tính thiết yếu của việc ứng dụng CNTT trong bối cảnh Việt Nam, kèm theo là thực trạng ứng dụng hiện nay. Bài báo đã chỉ ra quá trình ứng dụng CNTT vào giáo dục nói chung và giảng dạy ngoại ngữ nói riêng trên thế giới được chia thành ba giai đoạn, cụ thể: giai đoạn giới thiệu công nghệ vào lớp học (Introduction); giai đoạn tích hợp công nghệ vào lớp học (Intergration); và giai đoạn vô hình hóa công nghệ trong lớp học (Invisibilisation). So với các quốc gia tiên tiến, việc ứng dụng CNTT vào dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam được đánh giá đang ở ngưỡng cuối của giai đoạn một. Tác giả cũng cho biết mặc dù việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy trong các trường phổ thông đã được phát động và thực hiện từ những năm 1990 nhưng hiện nay thực tiễn áp dụng còn chưa triệt để, nhiều địa phương, cá nhân còn chưa hiểu rõ hoặc xem nhẹ việc phát triển ứng dụng CNTT trong dạy và học.
Việc ứng dụng đa phần còn dừng lại ở thí điểm, thao giảng, chưa nhân rộng đại trà để trở thành một trong những công cụ thiết yếu mà mỗi giáo viên cần phải sử dụng. Nguyễn Văn Hiền (2018) trong nghiên cứu của mình đã nhận định: thực chất “kỹ năng sử dụng CNTT của giáo viên trong dạy học là tổ hợp của kỹ năng công nghệ và phương pháp dạy học tương ứng” [77; tr. Tác giả đã chỉ ra các kỹ năng giáo 8 c sinh cần được đào tạo trong trường sư phạm, tương ứng với ba hướng ứng dụng CNTT trong tổ chức dạy - học. Cụ thể: Bảng 1.
Một số kỹ năng cần được đào tạo để phát triển năng lực ứng dụng CNTT trong tổ chức dạy học cho giáo sinh Hướng Về mặt kỹ năng công nghệ Về mặt phương pháp dạy học - Biết thao tác cơ bản vận hành - Có kỹ năng lựa chọn bài dạy, đơn máy vi tính, sử dụng hệ điều hành vị kiến thức phù hợp; (Windows); - Có kỹ năng lựa chọn tài nguyên - Biết sử dụng phần mềm soạn phù hợp; thảo, phần mềm trình diễn; - Có kỹ năng lựa chọn/xây dựng 1 - Biết khai thác mạng, xử lý hình hình thức thể hiện bài dạy với sự hỗ ảnh đa phương tiện; trợ của CNTT một cách khoa học; - Nhận biết các vấn đề liên quan - Có kỹ năng thiết kế hoạt động học đến đạo đức và pháp luật khi sử tập theo hướng hoạt động hóa người dụng CNTT. Ngoài các kỹ năng của hướng 1 - Có kỹ năng lựa chọn bài dạy, đơn thì cần thêm: vị kiến thức phù hợp; - Biết xử lý các tình huống công - Biết thiết kế và tổ chức bài dạy nghệ (về phần cứng) có thể xảy ra theo PPDH dựa trên dự án/PPDH 2 khi HS sử dụng; dựa trên giải quyết vấn đề; - Biết quản lý, chia sẻ dữ liệu qua - Biết tổ chức kiểm tra đánh giá dựa mạng LAN; trên hoạt động. - Biết xây dựng một website đơn giản. Ngoài các kỹ năng của hướng 1 và - Biết vận dụng tiếp cận thiết kế dạy 2 thì cần thêm: học để thiết kế và tổ chức khóa học - Khả năng xây dựng các theo hướng đáp ứng từng cá nhân Courseware đạt chuẩn SCORM; người học; 3 - Biết tổ chức và quản lý lớp học - Biết thiết kế và tổ chức kiểm tra online; đánh giá phù hợp; - Có thể biết xây dựng và quản lý - Biết phân tích, sử dụng hồ sơ của một hệ thống LMS (Moodle).
người học (profile) để thiết kế, tư vấn hoạt động học tập phù hợp. Tác giả cũng phân tích, chỉ ra hướng (1) hiện đang là phổ biến nhất ở Việt Nam, do cả yếu tố khách quan và chủ quan. Yếu tố khách quan là hệ thống cơ sở hạ tầng ở nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu của hướng (2) và (3), đặc điểm phân phối chương trình chưa thuận lợi cho GV tổ chức, thực hiện bài dạy theo hướng này; yếu tố chủ 9 c quan là GV cũng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng trong dạy học theo hướng (2) và (3). Trong khi hướng (1) GV có thể tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có.
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn (2012) cũng chỉ ra có năm mức độ ứng dụng CNTT trong các cơ sở giáo dục nói chung, đó là: mức (i): sử dụng các thiết bị CNTT để trợ giúp GV trong một số thao tác nghề nghiệp như soạn giáo án bằng hệ soạn thảo văn bản, in ấn tài liệu, sưu tầm tài liệu, … nhưng chưa sử dụng CNTT trong tổ chức dạy học các tiết học cụ thể của môn học. Mức (ii): ứng dụng CNTT để hỗ trợ một khâu, một công việc cụ thể nào đó trong QTDH, chẳng hạn sử dụng PowerPoint/ Violet trình chiếu bài giảng. Mức (iii): sử dụng phần mềm dạy học để tổ chức dạy học một chương, một số tiết, một vài chủ đề của môn học. Mức (iv): tích hợp CNTT vào QTDH.
Các yếu tố của CNTT được tính đến trong tất cả các hoạt động của quá trình tổ chức và quản lý dạy học trong nhà trường phổ thông: dạy học trong giờ lên lớp; tổ chức học tập ngoài giờ lên lớp; kiểm tra – đánh giá; giám sát kiểm tra hoạt động học tập của học sinh ở nhà; hỗ trợ các hoạt động chuyên môn của GV, các hoạt động quản lý chuyên môn như hồ sơ học tập của người học, hồ sơ GV, lập thời khóa biểu, giao tiếp với các đối tượng liên quan thông qua website… Mức (v): triển khai trường học thông minh và E-learning. Hiện nay ở các nhà trường phổ thông nước ta, việc ứng dụng CNTT trong dạy học mới chỉ được thực hiện ở mức 1 đến mức 4, nhưng chưa thường xuyên và thực sự hiệu quả, mức (v) chưa thể thực hiện đồng bộ sâu rộng do những hạn chế về cơ sở hạ tầng CNTT cũng như năng lực CNTT của đội ngũ GV (tr. - Về các thiết bị, phần mềm ứng dụng: Burns (2010) đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình rằng GV đang tìm nhiều cách hơn tích hợp các công nghệ vào lớp học để tăng sự tham gia và thành tích đạt được của HS. Tác giả Phan Tiến Chức (2015) nhận định: hiện nay ở nước ta ngoài các thiết bị công nghệ hỗ trợ như máy chiếu, máy tính và Internet, hai loại phần mềm chính hỗ trợ dạy học đó là: (i) phần mềm được ứng dụng vào dạy học cho hầu hết các môn học như phần mềm Microsoft Word (soạn thảo văn bản), Microsoft PowerPoint (trình chiếu điện tử), Macromedia Flash (tạo thí nghiệm ảo, mô phỏng thí nghiệm); phần mềm thiết kế video, bài giảng điện tử, phần mềm vẽ sơ đồ tư duy…; (ii) các 10 c phần mềm sử dụng cho từng môn học riêng biệt như phần mềm Cabri, Geogebra, Maple, Geometer’s Sketchpad,… sử dụng trong dạy học môn Toán;…[49; tr.
Việc sử dụng phần mềm nào, hiệu quả ra sao tùy thuộc vào mục đích triển khai dạy và học cũng như năng lực của GV. - Về điểm tồn tại, các yếu tố tác động: Nghiên cứu của Jef Peeraer và Peter Van Petegem (2010) đã khảo sát các yếu tố ảnh hưởng tới việc ứng dụng CNTT trong ngành sư phạm Việt Nam, một nước đang ở giai đoạn đầu của ứng dụng CNTT vào những năm 2010. Nghiên cứu khẳng định việc sử dụng các chương trình ứng dụng CNTT còn hạn chế, chủ yếu để thay cho PPDH cũ. Các yếu tố tác động đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học thực hành gồm: cơ hội tiếp cận với máy tính, cường độ sử dụng máy tính, kỹ năng CNTT, sự tự tin về CNTT, và đặc điểm cá nhân (gồm thái độ với CNTT và quan niệm về việc học tập ở HS).
Nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý về cách ứng dụng hiệu quả CNTT vào ngành sư phạm Việt Nam [54; tr. Nghiên cứu của Trần Đình Châu và Đặng Thị Thu Thủy (2011) cho thấy việc ứng dụng CNTT ở các trường phổ thông hiện nay phát triển khá mạnh mẽ, đa dạng, phong phú, góp phần hỗ trợ đổi mới PPDH, hỗ trợ công việc của GV, bước đầu nâng cao chất lượng dạy học. Tuy nhiên, ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay thường chú trọng đến kỹ thuật CNTT mà chưa chú trọng nhiều đến hiệu quả dạy học. Phần lớn bài giảng điện tử mang tính trình diễn, đôi lúc còn lạm dụng CNTT đưa nhiều tranh ảnh, hiệu ứng chữ, màu sắc lòe loẹt dẫn đến chi phối sự tập trung chú ý ở HS, biến bài học, giờ học trở thành “giờ xem”, HS bị động, ít được tham gia vào hoạt động học [46; tr.
Đồng quan điểm với những nghiên cứu trên, nhiều nghiên cứu nước ngoài cũng chỉ ra các yếu tố tác động đến mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của GV, điển hình có thể kể đến luận án tiến sĩ của Mohammed I. Trong nghiên cứu của mình, Isleem đã chỉ ra năm yếu tố cơ bản tác động đến mức độ ứng dụng CNTT của GV trong hoạt động dạy học, đó là sự thành thạo (expertise), cơ hội tiếp cận (access), thái độ (attitude), sự hỗ trợ (support), và đặc điểm cá nhân của GV (teacher characteristics) (tr. Một nghiên cứu khác của Snoeyink và Ertmer (2004) 11 c cũng chỉ ra 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT trong giáo dục là yếu tố “bên ngoài” như nguồn lực và sự hỗ trợ kỹ thuật; yếu tố “bên trong” như thái độ của GV với việc ứng dụng CNTT vào dạy học… (tr.