CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC FARMSTAY VÀ KIẾN TRÚC TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT 1. Một số khái niệm, thuật ngữ khoa học liên quan đến đề tài 1. Khái niệm Farmstay Hiện nay, có rất nhiều loại hình tham quan trải nghiệm du lịch để thu hút du khách đến nghỉ dưỡng và khám phá văn hoá địa phương tại các điểm du lịch. Trong đó farmstay được biết đến như một loại hình mới - kết hợp giữa trang trại và dịch vụ lưu trú, nghỉ dưỡng.
Farmstay theo định nghĩa của nước ngoài: “Farmstay là mô hình kết hợp giữa trang trại và nghỉ dưỡng, trong đó du khách đến thăm một trang trại đang hoạt động để làm việc và cũng có thể nghỉ qua đêm”. Theo đó, mỗi farmstay sẽ có những hình thức khác nhau: Có thể là một căn phòng trên trang trại được chuyển đổi thành phòng nghỉ qua đêm; Hoặc một chuồng trại được sửa chữa thành phòng ngủ; Hay một nơi xây dựng dành riêng cho du khách trải nghiệm cuộc sống bên trong nông trại. Mỗi nông trang sẽ cung cấp những trải nghiệm khác nha cho du khách để được trải nghiệm những công việc ở nông trại và hiểu biết thêm về nông nghiệp tại địa phương. Tại Việt Nam hiện nay, chưa có một định nghĩa chính xác nào cho Farmstay.
Trong văn bản 1503/KH-UBND của UBND tỉnh Quảng Bình vào 13/9/2016 tại mục 3.5: Phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng có nhắc đến “Farmstay (khu nông trại có phòng cho khách du lịch thuê)”. Như vậy, farmstay được hiểu là một trang trại có chỗ ở lại cho khách du lịch trải nghiệm. Farmstay có đầy đủ các hoạt động tạo ra nông sản, chủ trang trại có thể cải tạo hay xây mới các công trình phục vụ để có chỗ nghỉ ngơi và trải nghiệm cho du khách. Tại Farmstay, du khách có thể nghỉ lại qua đêm hoặc trải nghiệm như một buổi picnic.
Khái niệm thiết kế bền vững Ngày nay, thiết kế bền vững được xem là mục tiêu được áp dụng trong hầu hết các công trình xây dụng, nhằm tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, mang lại tương lai tốt đẹp hơn. Thiết kế bền vững sẽ giải quyết các vấn đề không chỉ cho người sử dụng mà còn cho cả môi trường xung quanh không gian đó. Sharlyn Underwood, chủ tịch Hiệp hội các nhà thiết kế nội thất Hoa Kỳ (ASID) Virginia - nhà thiết kế nội thất của SmithLewis 11 Architecture, định nghĩa thiết kế bền vững như một phần của kiến trúc: “Thiết kế bền vững là việc thực hành thiết kế các tòa nhà sao cho chúng tồn tại hài hòa với các hệ thống tự nhiên”. Khi thiết kế sản phẩm bền vững cần lưu ý: Thứ nhất: Các khía cạnh của thiết kế bền vững không chỉ được đưa vào giai đoạn cuối cùng của quá trình thiết kế như một phần bổ sung mà cần được đan xen vào từng bước xuyên suốt quá trình thiết kế, từ khi lên ý tưởng sáng tạo cho đến khi hoàn thành dự án.
Thứ hai: Các nhà thiết kế nội thất phải sử dụng triệt để và chọn những vật liệu tốt cho người sử dụng để tiếp xúc hằng ngày. Các thiết kế mang tính bền vững ưu tiên sử dụng nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời. Bên cạnh đó, các nguyên vật liệu cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các thiết kế bền vững, các vật liệu tổng hợp và tái chế làm giảm đi sự phụ thuộc vào các vật liệu truyền thống. Các nguyên tắc trong thiết kế bền vững Tạo lập một không gian sống đảm bảo đầy đủ tiện nghi, môi trường sống trong lành, dễ chịu và lành mạnh.
Đảm bảo khả năng cộng sinh với môi trường tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu. Áp dụng các công nghệ xanh trong xây dựng, điều tiết và sự dụng hiệu quả các thiết bị, năng lượng để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Áp dụng các biện pháp xử lý chất thải ra môi trường. Chú trọng hòa nhập với môi trường, cảnh quan của các khu vực xung quanh.
Thiết kế phải có khả năng hòa hợp, phát huy các giá trị văn hóa, truyền thống (nếu có) để không làm tổn hại tới di sản, cảnh quan xung quanh. Có khả năng thực thi và mang lại hiệu quả sử dụng cao, đảm bảo về hiệu quả kinh tế, kỹ thuật trong dài hạn. Khái niệm về thiết kế Biophilia Biophilia là thiết kế kết hợp thiên nhiên vào môi trường sống, giúp truyền cảm hứng, tái tạo năng lượng và kết nối giữa con người với môi trường xung quanh. Biophilia là khái 12 niệm gần giống của Kiến trúc xanh ngoài.
Biophilia đưa các công trình xây dựng gần hơn tới môi trường và tăng khả năng phát triển bền vững còn mang tự nhiên vào không gian nội – ngoại thất, khiến cho các công trình trở nên hòa hợp với thiên nhiên hơn các thiết kế thông thường. Những lợi ích thiết kế Biophilia: - Có không gian xanh trong công trình: Khi thiết kế một công trình nội thất và ngoại thất có thể hòa hợp được với nhau bằng những vật liệu thô mang tính tự nhiên như gỗ, mặt đá, đá phiến, đặc biệt là những bề mặt đá tự nhiên. Cùng với cây xanh, không gian sẽ trở nên tự nhiên và giàu sức sống, mang lại cảm giác gần gũi cho con người. - Cải thiện chất lượng không khí: Hiện nay, mức độ ô nhiễm ở các thành phố đang gia tăng, chất lượng không khí trong nhà cũng bị ảnh hưởng và ngày càng đi xuống.
Trồng cây trong nhà giúp lọc không khí bằng cách hấp thu bụi và CO2, đồng thời tạo ra oxi thông qua quá trình quang hợp. - Đem lại lợi ích cho tinh thần: Giải pháp trồng thêm cây xanh có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe tinh thần. Trồng cây được chứng minhlàm giảm mức độ căng thẳng, tạo ra một bầu không khí tốt và có tác dụng hồi phục tích cực cho tinh thần của con người. Không gian xanh cũng là nơi hoàn hảo để nghỉ ngơi và thư giãn.
- Tăng tính sáng tạo cho không gian: Các nghiên cứu cho thấy màu xanh lá cây có liên hệ mạnh mẽ với sự sáng tạo. Đưa một cây xanh vào không gian giúp cải thiện năng suất và hiệu quả làm việc, khơi dậy những ý tưởng sáng tạo và tạo động lực – tăng cường sự gắn bó giữa con người và con người. Tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển thành phố Đà Lạt. Đà Lạt là thành phố thuộc Tây Nguyên, một địa danh rất quen thuộc với người Việt Nam và du khách quốc tế.
Đà Lạt được hình thành từ năm 1893 khi bác sỹ Alexandre Yersin đặt chân lên cao nguyên Lâm Viên để khám phá khi Paul Doumer - Toàn quyền Đông Dương hỏi tìm một địa điểm vùng cao để xây dựng nơi nghỉ dưỡng. Từ đó, thành phố Đà Lạt dần dần hình thành và đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử. Sự phát triển quy hoạch đô thị Đà Lạt nửa đầu thế kỷ XX được thừa hưởng sự phát triển của quy hoạch đương đại của thế giới. Ban đầu là đồ án xây dựng của Toàn quyền Paul 13 Doumer, áp dụng phương pháp quy hoạch phân khu chức năng của Paul Champoudry, đến những bản quy hoạch của các kiến trúc sư Hébrard năm 1923, Pineau năm 1933, Mondet năm 1940 và Lagisquet năm 1943, Đà Lạt dần hình thành là một thành phố nghỉ dưỡng với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp.
Tuy có nhiều quan điểm khác biệt, nhưng các đồ án quy hoạch thành phố luôn mang tính kế thừa lẫn nhau và được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện thực tế từng thời kỳ. Với sự nhất quán trong việc thực thi ý tưởng xây dựng một thành phố cảnh quan, các kiến trúc sư người Pháp đã tạo nên những đặc điểm nổi trội của kiến trúc đô thị Đà Lạt – như quy hoạch đô thị theo bố cục tự do, hạn chế can thiệp vào địa hình, các con phố uốn lượn theo đồi núi và thung lũng, những phân khu chức năng bố trí linh hoạt. Đặc điểm của các công trình kiến trúc của thành phố Đà Lạt thời Pháp thuộc đa số là bảo tồn môi trường thiên nhiên xung quanh, tất cả các công trình kiến trúc ở Đà Lạt đều chọn bố cục theo hình khối nằm ngang, nương theo địa hình của nơi xây dựng. Qua thời gian xây dựng thành phố, phong cách kiến trúc đã có nhiều thay đổi nhưng cũng vẫn giữ ít nhiều nét kiến trúc Pháp.
Kiến trúc Đà Lạt có thể theo những phong cách sau: - Phong cách tân cổ điển. - Phong cách hiện đại chịu ảnh hưởng trào lưu hiện đại châu Âu 1920-1930. - Phong cách kiến trúc địa phương Pháp. - Phong cách kiến trúc khai thác đặc điểm địa phương, dân tộc bản địa.
- Ngoài ra còn có khuynh hướng sao chép pha trộn các chi tiết của các trào lưu khác nhau không có trật tự nhất định. Kiến trúc thời Pháp thuộc Sau khi Paul Doumer ký nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và trạm hành chính ở Lâm Viên. Năm 1906, sau khi tham khảo ý kiến các đoàn khảo sát và theo đề nghị của bác sĩ Tardif, Hội đồng quốc phòng Đông Dương quyết định chọn cao nguyên Lâm Viên làm nơi nghỉ dưỡng vì hội đủ điều kiện cần thiết. Tuy vậy, cho đến hết nhiệm kỳ của Toàn quyền Klobukowski (1908 - 1910), mọi hoạt động chẳng tiến triển được bao nhiêu.
Thị trưởng Champoudry cùng hội đồng thị xã của ông trong giai đoạn này “không có một khoản ngân sách đáng kể, không có một sự trợ giúp nào cả”. Trong giai đoạn này cũng có vài 14 công trình được xây dựng như: trạm khí tượng từ Đan Kia; lữ quán cho khách vãng lai, tiền thân của Khách sạn Hôtel du Lac đặt ở vị trí (Khách sạn Hàng Không ngày nay); đường sắt Tháp Chàm - Xóm Gòn hoàn thành sau 6 năm xây dựng (1909) Từ năm 1916-1926, trải qua nhiều biến động của lịch sử, dân số tại Đà Lạt ngày càng tăng. Về mặt hành chính, Đà Lạt trong giai đoạn này trở thành một đơn vị tự trị về pháp lý, công sứ - thị trưởng Đà Lạt có những quyền hạn cho phép tiếp nhận đầu tư từ ngoài vào. Lúc này, việc mua đất ở Đà Lạt trở nên sôi động trong giới quan chức và kinh doanh người Pháp.
Những công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng: khách sạn Palace (1916 - 1922), ngăn đập xây hồ trên dòng Cam Ly (1919), nhà máy điện (1918), bưu điện, kho bạc, … (Hình1. Năm 1919, Labbé - kỹ sư công chánh, xây dựng hồ nước trên dòng suối Cam Ly. Nhiều khu phố được thành lập phía Nam, Đông - Nam và Tây của Hồ Lớn. Người Việt sống trong làng Đa Lạc ở phía bắc suối Cam Ly và hướng Tây - Bắc.