CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU/ĐỀ TÀI - Tính cần thiết của đề tài: Trong số các phương pháp được đề xuất có hai phương pháp tĩnh chín được nghiên cứu trong đề tài này là phương pháp MPA (phương pháp tĩnh sử dụng lực ngang có xét đến các dạng dao động cao hơn) và Phương pháp phổ khả năng CSM là một phương pháp được sử dụng phổ biến, là một công cụ đánh giá nhanh tác động của động đất cho công trình. Phương pháp phổ khả năng CSM là một phương pháp được sử dụng phổ biến, là một công cụ đánh giá nhanh tác động của động đất cho công trình. Phương pháp CSM được sử dụng như một phương pháp thể hiện tương quan giữa những chuyển động của nền đất đối với kết cấu bị ảnh hưởng. Tiến trình của phương pháp là xây dựng đường cong khả năng của kết cấu và so sánh với phổ thiết kế, cả hai được vẽ trên cùng một đồ thị có tên gọi phổ phản ứng gia tốc - chuyển vị ADRS (Acceleration - Displacement Response Spectrum).
Chuyển vị mục tiêu của hệ một bậc tự do là giao điểm của phổ khả năng (capacity spectrum) và phổ thiết kế (demand spectrum). Phổ thiết kế đại diện cho những chuyển động của đất nền. Phổ khả năng đại diện cho khả năng của kết cấu chống lại tác động của chuyển động này. Tuy nhiên phương pháp này dựa trên các mẫu tải bất biến nên độ chính xác không cao đối với công trình cao tầng.
Phương pháp phân tích đẩy dần MPA dựa trên thuyết động lực học công trình. Đầu tiên, quy trình được áp dụng cho các công trình đàn hồi tuyến tính giống như quy trình phân tích phổ phản ứng. Sau đó, quy trình được mở rộng để ước tính tác động của động đất lên kết cấu không đàn hồi bằng việc giả định và xấp xỉ những điều kiện ban đầu. Tác động của động đất lên khung 3,9,18 tầng trong dự án SAC do Chopra và Goel nghiên cứu được xác định bằng phương pháp MPA, phân tích động và phân tích đẩy dần dùng tải ngang phân phối đều và theo dạng dao động.
Kết quả phương pháp MPA có độ chính xác tương đương với phân tích động trong đánh giá các kết quả về chuyển vị tầng, độ trôi tầng, góc chảy dẻo và vị trí xuất hiện khớp dẻo. Chintanapakdee và Chopra, đánh giá độ chính xác của phương pháp MPA cho các công trình chịu động đất trong dự án SAC. Phương pháp MPA là phương pháp có nhiều ưu điểm vượt trội vì có xét đến dạng dao động cao hơn, chuyển vị mục tiêu của hệ một bậc tự do được xác định bằng cách giải phương trình phi tuyến nên kết quả dự báo rất tốt. Tuy nhiên, việc giải phương trình phi tuyến khá phức tạp và mất nhiều thời 5 gian.
vì vậy, để giảm bớt những khó khăn trong việc thực hiện phương pháp MPA và bù đắp sự hạng chế của Phương pháp phổ khả năng CSM, nên phương pháp MPA – CSM kết hợp được lựa chọn trong đề tài. - Mục tiêu nghiên cứu (Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể) Mục đích nghiên cứu luận văn là đề xuất qui trình phân tích tĩnh phi tuyết MPA – CSM kết hợp. Áp dụng qui trình phân tích tĩnh phi tuyết MPA – CSM kết hợp đề xuất để phân tích ứng sử phi tuyến của hệ khung thép có xét đến biến dạng nền chịu tác động của động đất. - Đối tượng nghiên cứu (Đối tượng khảo sát, đối tượng phân tích) Đối tượng nghiên cứu là phân tích 3 mô hình nhà khung phẳng với số tầng lần lượt là 3, 9, 18 tầng chịu động đất, nhà khung phẳng được mô hình theo cơ chế “ cột khỏe – dầm yếu”, khớp dẻo xuất hiện ở chân cột tầng trệt và đầu mút dầm, phần còn lại làm việc đàn hồi.
Có xét tương tác nền – kết cấu sử dụng mô hình dầm trên nền phi tuyến Winkler. Dữ liệu phân tích là 2 bộ dữ liệu động đất tại Los Angeles với tần suất là 2% và 10% trong 50 năm để đánh giá tác động của động đất đối với hệ khung. - Phân tích kết cấu thường giả định rằng độ cứng dọc trục và độ cứng chịu uốn không đổi và liên kết tại các nút khung được xem như là tuyệt đối cứng trong suốt quá trình chịu lực. Tuy nhiên trong thực tế, điều kiện lý tưởng như vậy ít khi xảy ra, đặc biệt khi kết cấu chịu tác động của động đất, vì ứng xử thật của vật liệu là ứng xử phi tuyến và liên kết cũng không là tuyệt đối cứng.
Khi nội lực tăng lên, độ cứng dọc trục và độ cứng uốn giảm đi, cấu trúc hình học của vật liệu sẽ thay đổi liên tục khi chịu các lực khác nhau. Vì vậy, để đánh giá một cách chính xác phản ứng của công trình dưới tác dụng của các tải trọng, đặc biệt là tải trọng động đất, cần phải xét tới sự làm việc sau giai đoạn đàn hồi của kết cấu. Khác với phản ứng đàn hồi tuyến tính của các hệ kết cấu, quan hệ giữa ứng suất biến dạng của phản ứng phi tuyến không là hàm tuyến tính mà thay đổi phụ thuộc vào kích thước, hình dạng cấu kiện, thành phần vật liệu sử dụng, tính chất tải trọng tác dụng. Do đó, khi phân tích phi tuyến ta không chỉ xác định modun đàn hồi như đối với phân tích đàn hồi mà còn phải phân tích biểu đồ quan hệ giữa ứng suất và biến dạng của vật liệu.
Phi tuyến hình học Phân tích bậc nhất giả thiết rằng biến dạng tỉ lệ với lực tác dụng, vì vậy quan hệ giữa chuyển vị và lực tác dụng là tuyến tính. Điểm nổi bật của phương pháp này là sự phù hợp với nguyên lý cộng tác dụng trong những trường hợp tải trọng khác nhau. Tuy nhiên, cách phân tích này không cung cấp bất cứ thông tin nào về ổn định và khả năng chịu lực của kết cấu (Hình 1. Phi tuyến hình học Khác với phân tích đàn hồi tuyến tính, lời giải có thể tìm được một cách đơn giản và trực tiếp, phân tích phi tuyến hình học thường cần đến việc tính lặp trong cách gia tải từng bước do sự thay đổi hình học của kết cấu không được biết khi thiết lập phương trình cân bằng và quan hệ động học cho bước tính toán hiện tại.
Phân tích này rất cần thiết khi ngày càng có nhiều kết cấu có độ mảnh lớn, làm bằng vật liệu nhẹ có cường độ cao. Phi tuyến vật liệu Khung thép bị phá hủy phụ thuộc vào sự mất ổn định của hệ kết cấu do sự chảy dẻo khi tải trọng tác dụng. Phân tích phi tuyến vật liệu là phân tích có kể đến ứng xử không đàn hồi của vật liệu, khi đó quan hệ ứng suất và biến dạng không còn là hàm tuyến tính. Phương pháp chính trong phân tích phi tuyến vật liệu kết cấu thép thường dùng là phương pháp khớp dẻo.
Với phương pháp này, phần tử được giả thiết vẫn còn hoàn toàn đàn hồi giữa các đầu mút của nó, một khi sự chảy dẻo của mặt cắt ngang được tìm thấy sẽ có một khớp dẻo tại đầu mút chảy dẻo. Mô hình khớp dẻo(OpenSees_User, 2016) 1. Cơ cấu chảy dẻo mong muốn của khung chịu động đất Đối với công trình chịu động đất, yếu tố an toàn là cho phép thiệt hại ở một mức độ nào đó mà không sụp đổ, yếu tố này phụ thuộc rất lớn vào các chuyển vị tầng và đặc biệt là thông số độ trôi tầng. Với mong muốn ban đầu của người thiết kế nhằm dễ kiểm soát và đánh giá thiệt hại mô hình khung được xây dựng theo tính chất: “dầm yếu – cột khỏe” (Hình 1.3a) , điểm xuất hiện chảy dẻo và phá hoại chỉ xuất hiện tại vị trí chân cột tầng 1 (nơi có nội lực lớn nhất, lực cắt chân móng lớn nhất, nguy hiểm nhất) và tại các vị trí đầu dầm (nơi có môment lớn nhất).
Khi đó, nguy cơ xuất hiện tầng mềm sẽ bị loại trừ (Hình 1.3b), sự nguy hiểm của tải trọng động đất sẽ phân bố đều cho các tầng và sự hư hại của dầm chỉ làm hư hỏng một số tầng mà không làm sụp đổ hay phá hoại cả công trình. Cột khỏe – dầm yếu Hình 1. Cột yếu – dầm khỏe 8 Ngày nay, với nhiều công trình nghiên cứu và sự phát triển của kỹ thuật tính toán, việc phân tích phi tuyến công trình chịu động đất có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau: - Phương pháp phân tích phi tuyến theo miền thời gian (NL –RHA) Đây là công cụ phân tích chính xác tác động của động đất lên công trình, tải trọng động đất được phân tích trực tiếp lên công trình thông qua phương trình phi tuyến. Tuy nhiên phương pháp này tốn khá nhiều thời gian và chi phí lập trình tính toán.
Gia tốc nền b. Mô hình tính toán Hình 1. Bài toán phân tích phi tuyến theo miền thời gian - Phương pháp phổ khả năng CSM ( Capacity Spectrum Method) Phương pháp phổ khả năng CSM trình bày trong ATC – 40 (Applied Technology Council, 1996) được phát triển bởi Freeman. Đây là phương pháp phổ biến được sử dụng nhằm đánh giá nhanh ảnh hưởng của động đất lên công trình.
Với phương pháp này, chuyển vị mục tiêu được xác định là giao điểm của phổ khả năng (Capacity spectrum) và phổ thiết kế (Demand spectrum) trên đồ thị gia tốc – chuyển vị ADRS (Acceleration-Displacement Response Spectrum) (Hình 1. Tuy nhiên phương pháp này dựa trên các mẫu tải bất biến nên độ chính xác không cao đối với công trình cao tầng. Chuyển vị mục tiêu xác định theo phương pháp CSM - Phương pháp hệ số chuyển vị DCM (Displacement Coefficient Method) Phương pháp hệ số chuyển vị DCM trình bày trong FEMA-356 (Federal Emergency Management Agency, 2000) là một phương pháp xấp xỉ dựa trên hệ số hiệu chỉnh chuyển vị. Chuyển vị của hệ nhiều bậc tự do được hiệu chỉnh thành chuyển vị của hệ một bậc tự do tương đương bằng một số các hệ số: 2 T t C0C1C2C3 S a c g 2 (1.1) Trong đó: C0: hệ số hiệu chỉnh dựa trên phổ chuyển vị của hệ SDOF tương đương với chuyển vị đỉnh của hệ MDOF.
C1: hệ số tương quan giữa biến dạng cực đại của hệ không đàn hồi và biến dạng của hệ đàn hồi tuyến tính. C2: hệ số có kể đến ảnh hưởng của vòng lặp trễ (pinch), sự suy biến độ cứng và sự giảm độ bền trên đáp ứng chuyển vị cực đại và hệ số hiệu chỉnh. C3: hệ số kể đến hiệu ứng P-∆, bỏ qua hệ số độ cứng (post-yeild).