CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC BẢO TÀNG DANH NHÂN Ở TP. HỒ CHÍ MINH 1. Cơ sở lý luận, các khái niệm 1. Bảo tàng Theo Lewis (2009), “museum” xuất phát từ từ “mousein” trong tiếng Hi Lạp, nghĩa là “chỗ ngồi của các Nàng Muse - Nàng Thơ” (seat of the Muses), được hiểu như là nơi để thưởng ngoạn hoặc một viện khoa học.
Cho đến thời kỳ Roma, dạng Latin của từ này - “musem” - được sử dụng với nghĩa là nơi dành cho các cuộc thảo luận khoa học. Đến thế kỷ XV, từ này được dùng để chỉ tính đa dạng, bao quát của các bộ sưu tập và đến thế kỷ XVII nó lại mang nghĩa bộ sưu tập những vật gây tò mò. Thuật ngữ “bảo tàng” du nhập đến châu Á muộn hơn, xuất hiện ở Trung Quốc vào thế kỷ XIX - để chỉ bác vật viện, bác vật quán là nơi trưng bày nhiều hiện vật phong phú. Có thể thấy khái niệm này chú trọng vào chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin, chia sẻ điểm chung với các chức năng của bảo tàng trong khái niệm “meseum” của phương Tây.
Từ điển tiếng Việt cũng ghi nhận “bảo tàng” là từ Hán - Việt, có nghĩa là “nơi tàng trữ, bảo quản và trưng bày những hiện vật, tài liệu có ý nghĩa lịch sử” [29, tr. Điều này có ý nghĩa là trong tiếng Việt, khái niệm bảo tàng cũng chú ý đến yếu tố cất giữ, lưu trữ hiện vật, thông tin của bảo tàng, xem bảo tàng như một hiện tượng độc lập, không có mối quan hệ với xung quanh. Như vậy, quá trình phát triển của khái niệm này cho thấy sự nhìn nhận khác biệt giữa bảo tàng của các nước phương Tây và các nước phương Đông, trong đó bảo tàng thường được quan niệm đơn thuần như là một công trình lưu giữ 16 hiện vật và thông tin tại phương Đông và được xem xét ở một phạm vi rộng hơn, có tính đến sự tương tác của bảo tàng với các yếu tố xã hội và môi trường xung quanh ở phương Tây thời kỳ hiện đại. Bên cạnh ý nghĩa về mặt từ ngữ, các tổ chức, cơ quan uy tín trên thế giới cũng có những định nghĩa riêng về bảo tàng.
Định nghĩa được sử dụng phổ biến nhất hiện nay ban hành bởi Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (The International Council of Museums - ICOM) đề cập đến bảo tàng như sau: “Bảo tàng là thiết chế không nhằm mục đích lợi nhuận, phục vụ xã hội và sự phát triển của xã hội, mở cửa cho công chúng. Bảo tàng nghiên cứu những bằng chứng vật chất về con người và môi trường sống của họ: sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, tuyên truyền và đặc biệt là trưng bày những bằng chứng vật chất này vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức” [45, tr. Định nghĩa này chỉ ra các chức năng chính của bảo tàng như sưu tầm - bảo quản, nghiên cứu, giáo dục và đáp ứng nhu cầu thưởng thức của con người, tuy vậy chưa cho thấy sự liên kết giữa bảo tàng với bối cảnh văn hóa và môi trường xung quanh. Bổ sung cho định nghĩa trên, Liên minh Bảo tàng Mỹ (Amrican Alliance of Museums) nhấn mạnh rõ hơn chức năng giáo dục của bảo tàng: “Bảo tàng là cơ quan sưu tầm, bảo quản có khả năng giải thích một cách hiệu quả những tư liệu về các hiện tượng tự nhiên và đời sống của con người, đồng thời sử dụng nó để tăng thêm giáo dục trí thức và mở mang trí tuệ cho con người” [31, tr.
Ở Việt Nam, theo Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 định nghĩa bảo tàng như sau: “Bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người, môi trường sống của con 17 người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và thụ hưởng văn hóa của công chúng” [27, tr. Hệ thống bảo tàng bao gồm bảo tàng công lập và bảo tàng ngoài công lập. Bảo tàng công lập bao gồm: Bảo tàng quốc gia, Bảo tàng chuyên ngành thuộc Bộ, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở Trung ương; Bảo tàng chuyên ngành thuộc các đơn vị trực thuộc Bộ, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; Bảo tàng cấp tỉnh. Như vậy, từ việc xác định nhiệm vụ của bảo tàng, chúng ta nhận thấy bảo tàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với xã hội.
Việc xác định đúng chức năng xã hội của bảo tàng là cơ sở để quản lý, quy hoạch định hướng để phát triển bảo tàng. Trong đó chức năng nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học đó là khả năng làm giàu tri thức (Enrich), giáo dục (Educate) và vui chơi giải trí (Entertau), tìm tòi (Expedition) và nghiên cứu (Rechearch) [35, tr. Luật di sản văn hóa của Việt Nam cũng đề cập cụ thể đến vai trò và chức năng của bảo tàng là nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên và con người, môi trường sống của con người. Song song với chức năng quan trọng của bảo tàng, và để thực hiện tốt các chức năng đó, bảo tàng phải thực hiện tốt các nhiệm vụ: sưu tầm, kiểm kê, bảo quản và trưng bày các hiện vật; nghiên cứu khoa học phục vụ việc bảo vệ và phát huy giái trị di sản văn hóa; Tổ chức phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ xã hội; Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của bảo tàng; Quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật; Thực hiện hợp tác quốc tế theo đúng quy định của pháp luật; Tổ chức hoạt động dịch vụ và phục vụ 18 khách tham quan phù hợp với nhiệm vụ của bảo tàng; Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật [27, tr.
Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, đối với các nước đang phát triển, giải quyết vấn đề này đang là yêu cầu được đặt ra hết sức bức xúc, vì nó vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. “Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Thuật ngữ nguồn nhân lực (human resourses) xuất hiện vào khoảng thập niên 80 của thế kỷ XX bắt nguồn từ sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động.
Trước đây, quan niệm về nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực (personnel management) này có khác đôi chút, người ta quan tâm đến việc xem nhân viên là một lực lượng thừa hành, phụ thuộc, bị khai thác sức lao động. Quan niệm mới hiện nay nhìn nhận vấn đề này nhẹ nhàng hơn, thân thiện hơn đó là việc tạo điều kiện tối đa để người lao động phát huy hết tiềm năng vốn có của họ thông qua quá trình lao động sản xuất [11]. Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ nguồn nhân lực là một trong những biểu hiện cụ thể cho việc thực hiện một phương thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn lực con người. Có nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực: 19 Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển các tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới [46, tr.
Cách hiểu nguồn nhân lực theo định nghĩa như trên xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức. Theo tổ chức quốc tế Liên Hợp Quốc khi đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa liên quan đến nguồn nhân lực. Theo đó nguồn nhân lực được hiểu là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực.
Trong đó việc đánh giá cao là xem tiềm năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng. Quan niệm về nguồn nhân lực như vậy cho ta thấy phần nào sự tán đồng của Liên hợp Quốc đối với phương thức quản lý mới. Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [43, tr.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), 20 bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa” [10, tr.
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa.