Tổng quan nghiên cứu

Lưới điện phân phối khu vực vùng cao thường đối mặt với bài toán sụt áp và tổn thất công suất nghiêm trọng do địa hình phức tạp, bán kính cấp điện kéo dài và phụ tải phân tán không đồng đều. Tại tỉnh Bắc Kạn, đường dây trục chính trung áp xuất tuyến từ trạm 110 kV có chiều dài lên tới 180 km, cấp điện cho địa bàn rộng lớn nhưng mật độ tiêu thụ chỉ đạt mức bình quân 104,0 kVA trên mỗi trạm biến áp phân phối. Điển hình là lộ 371 thuộc trạm E26.1 có tổng chiều dài lên tới 555,5 km (bao gồm 105,1 km đường trục chính và 602,1 km các nhánh rẽ), đang chịu mức tổn thất công suất lên tới 8,33% cùng độ sụt áp 5,43% ở chế độ phụ tải cực đại 6,7 MW.

Vấn đề cốt lõi phát sinh từ sự gia tăng của công suất phản kháng cảm tính trên đường dây truyền tải kéo dài, làm suy giảm hệ số công suất và phát sinh hiện tượng sụt áp sâu vào giờ cao điểm, đồng thời gây quá áp cuối nguồn vào thời điểm non tải do dung tính ký sinh. Các giải pháp truyền thống như lắp đặt máy biến áp tự ngẫu tăng áp 35 kV với tổng dung lượng 12.000 kVA hay sử dụng các bộ tụ bù tĩnh cơ khí bộc lộ nhiều hạn chế về chi phí đầu tư lớn, chiếm dụng diện tích mặt bằng và dễ dẫn đến tình trạng bù thừa hoặc bù thiếu gây mất ổn định hệ thống.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu, tính toán và thiết kế hoàn chỉnh hệ thống thiết bị bù hạ thế ổn định điện áp theo nguyên lý bù kết hợp có cấp và vô cấp (cấu trúc tụ tĩnh kết hợp kháng điều khiển bằng Thyristor - FC-TCR) tích hợp bộ điều khiển tỷ lệ vi tích phân (PID) phản hồi hệ số công suất. Phạm vi nghiên cứu tập trung thực nghiệm trên hệ thống lưới điện trung và hạ áp do Công ty Điện lực Bắc Kạn quản lý trong giai đoạn 2018 - 2019. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp giải quyết bài toán giảm tổn thất điện năng, đưa hệ số công suất duy trì trên ngưỡng 0,95, nâng cao chất lượng điện áp và gia tăng độ tin cậy cung cấp điện theo đúng định hướng kỹ thuật của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên lý thuyết truyền tải điện năng xoay chiều ba pha, nguyên lý biến đổi điện từ và lý thuyết bù công suất phản kháng trong hệ thống điện. Mối quan hệ giữa công suất tác dụng P (tính bằng kW), công suất phản kháng Q (tính bằng kVAr) và công suất biểu kiến S (tính bằng kVA) được xác định chặt chẽ thông qua tam giác công suất và hệ số công suất cos phi. Khi dòng điện phản kháng truyền tải trên đường dây tăng cao, nó không sinh công hữu ích nhưng trực tiếp gây sụt áp và tổn hao nhiệt lượng tỷ lệ với bình phương dòng điện toàn phần.

Khung mô hình nghiên cứu ứng dụng cấu trúc bù tĩnh linh hoạt bao gồm nhánh tụ điện cố định (Fixed Capacitor - FC) phát công suất dung và nhánh cuộn cảm điều khiển bằng Thyristor (Thyristor Controlled Reactor - TCR) tiêu thụ công suất cảm biến thiên liên tục. Điểm cốt lõi nằm ở việc điều khiển góc kích mở alpha của hai van Thyristor đấu song song ngược chiều trong khoảng từ 90 độ đến 180 độ nhằm thay đổi giá trị dòng điện hiệu dụng qua điện kháng L, qua đó điều chỉnh trơn công suất phản kháng tổng hợp. Thuật toán điều khiển tự động phản hồi tín hiệu cos phi sử dụng bộ điều khiển PID kinh điển, giúp triệt tiêu sai số xác lập và tối ưu hóa thời gian đáp ứng quá độ của hệ thống điện lực hạ thế 0,4 kV.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu được thu thập trực tiếp từ số liệu đo đếm SCADA và báo cáo vận hành kỹ thuật thực tế năm 2018 của Công ty Điện lực Bắc Kạn, bao gồm hiện trạng mang tải của 2 trạm biến áp 110 kV tổng công suất 75 MVA, 3 nhà máy thủy điện nhỏ với tổng công suất phát 10,1 MW (Tà Làng 4,5 MW, Thượng Ân 2,4 MW, Nậm Cắt 3,2 MW) và 14 xuất tuyến trung áp trên địa bàn toàn tỉnh.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ không gian vận hành của lộ 371 trạm E26.1 cấp điện cho các huyện Pác Nặm, Ngân Sơn, Ba Bể và Bạch Thông với 368 trạm biến áp 35/0,4 kV (tổng dung lượng 36.135,5 kVA), 89 điểm đặt tụ bù hạ thế 0,4 kV (tổng dung lượng 2.970 kVAr) và 3 điểm đặt tụ bù trung áp 35 kV (tổng dung lượng 1.650 kVAr). Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng vì đây là xuất tuyến đường dây dài nhất, cấu trúc hình tia phức tạp nhất và có tỷ lệ tổn thất kỹ thuật cao nhất trên toàn địa bàn.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa giải tích mạch điện lý thuyết và mô phỏng số hóa chuyên sâu trên nền tảng phần mềm MATLAB/Simulink. Lý do lựa chọn MATLAB/Simulink xuất phát từ khả năng mô phỏng chính xác các phần tử phi tuyến công suất, mạch tạo xung đồng pha và thuật toán chỉnh định tham số PID theo hai phương pháp thực nghiệm Ziegler-Nichols (bước 1 và bước 2), đảm bảo kết quả kiểm chứng có độ tin cậy kỹ thuật cao trước khi triển khai chế tạo phần cứng. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong thời gian 12 tháng, từ khâu khảo sát thực địa, xây dựng mô hình toán, lập trình mô phỏng đến kiểm nghiệm đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm và mô phỏng tính toán đã mang lại các phát hiện kỹ thuật quan trọng:

  • Thực trạng tổn thất kỹ thuật trên xuất tuyến 371 ở mức rất cao với tổn thất công suất chiếm 8,33% và sụt áp đạt 5,43% ở chế độ công suất cực đại 6,7 MW (công suất trung bình đạt 5,0 MW tương ứng mức mang tải 40,2%), nguyên nhân do 96,4% lưới trung áp sử dụng cấp điện áp 35 kV dây trần nhôm lõi thép AC50 đến AC120 trải dài qua địa hình đồi núi hiểm trở.
  • Hệ thống bù tĩnh hiện hữu gồm 89 điểm bù hạ thế với 2.970 kVAr đóng ngắt bằng công tắc tơ cơ khí bộc lộ rõ nhược điểm đóng cắt giật cục theo từng cấp định sẵn. Tình trạng này dẫn đến sai số điều chỉnh lớn, gây ra hiện tượng bù thừa vào ban đêm khi non tải làm tăng vọt điện áp lưới, hoặc bù thiếu vào các khung giờ cao điểm tiêu thụ.
  • Động cơ không đồng bộ trong các cơ sở chế biến khoáng sản và sinh hoạt nông thôn khi vận hành non tải tiêu thụ lượng công suất vô công chiếm từ 60% đến 70% định mức, khiến hệ số công suất tự nhiên giảm sâu xuống dưới 0,70. Trong khi đó, tổn thất công suất tác dụng của thiết bị bù tụ tĩnh chỉ mất khoảng 0,003 đến 0,005 kW/kVAr, thấp hơn đáng kể so với mức tiêu hao 0,015 đến 0,02 kW/kVAr của máy bù đồng bộ quay.
  • Hệ thống thiết bị bù hạ thế cấu trúc FC-TCR tích hợp bộ điều khiển PID được thiết kế thành công trên MATLAB/Simulink cho phép điều chỉnh góc mở Thyristor alpha liên tục từ 90 độ đến 180 độ. Thiết bị này giúp nâng hệ số công suất cos phi từ mức ban đầu khoảng 0,75 lên mức xấp xỉ 0,98 đến 0,99, đồng thời kéo giảm độ sụt áp cuối nguồn từ 5,43% xuống dưới 3,2%, hoàn toàn đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật điện lực quốc gia.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự mất ổn định điện áp trên lưới phân phối Bắc Kạn là sự kết hợp bất lợi giữa tải mang tính cảm kháng chiếm ưu thế và trở kháng đường dây quá lớn do chiều dài lộ 371 lên tới 555,5 km. Khi dòng điện vô công chạy trên tuyến đường dài, độ sụt áp tỷ lệ thuận với điện kháng cảm X của dây dẫn khiến điện áp cuối nguồn tụt giảm nghiêm trọng.

Kết quả mô phỏng trên phần mềm được biểu diễn trực quan qua hệ thống đồ thị dạng sóng điện áp đầu nguồn - cuối nguồn, giản đồ vector dòng áp và bảng so sánh các tham số điều khiển Kp, Ki, Kd thu được theo phương pháp Ziegler-Nichols. Dữ liệu dạng sóng chứng minh rằng mạch tạo xung điều khiển đồng pha kết hợp biến áp xung BAX đã kích mở chính xác hai van Thyristor, giúp phản ứng bù diễn ra tức thời với thời gian trễ dưới 0,02 giây ngay khi phụ tải thay đổi đột ngột.

So với giải pháp lắp đặt máy biến áp tự ngẫu AT 35 kV (tổng dung lượng 12.000 kVA với 2 trạm đang vận hành thử nghiệm) vốn đòi hỏi vốn đầu tư lớn, quy trình vận hành phức tạp và làm phát sinh tổn hao không tải trong lõi thép, giải pháp thiết bị bù hạ thế FC-TCR thể hiện tính ưu việt vượt trội. Thiết bị bù hạ thế FC-TCR đặt trực tiếp tại các trạm biến áp phân phối 35/0,4 kV vừa triệt tiêu dòng phản kháng ngay tại nguồn phát sinh, giải phóng dung lượng truyền tải cho 707,2 km đường dây trung áp, vừa tiết kiệm ước tính từ 35% đến 40% chi phí đầu tư so với việc xây dựng trạm biến áp tăng áp trung gian.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả tính toán khoa học và thực tế vận hành lưới điện, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Triển khai lắp đặt thí điểm 10 đến 15 bộ thiết bị bù tĩnh hạ thế FC-TCR tại các trạm biến áp phân phối 35/0,4 kV có bán kính cấp điện lớn và phụ tải công nghiệp nặng cuối lộ 371 trong giai đoạn quý 1 đến quý 3 năm 2020. Mục tiêu nhằm nâng hệ số cos phi trung bình toàn tuyến lên trên 0,95 và giảm tổn thất điện áp xuống dưới 4,0%. Trách nhiệm thực hiện thuộc về Phòng Kỹ thuật và Điều độ - Công ty Điện lực Bắc Kạn.
  • Hoàn thiện chế tạo module điều khiển vi xử lý chuyên dụng tích hợp thuật toán PID số hóa cho mạch phát xung Thyristor, hoàn thành thử nghiệm độ bền điện từ và khả năng chống nhiễu sóng hài trong vòng 6 tháng. Đơn vị chủ trì là nhóm nghiên cứu phối hợp cùng Trung tâm Thí nghiệm điện và Khoa Kỹ thuật Điện - Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên.
  • Thay thế từng bước các bộ tụ bù tĩnh đóng cắt tiếp điểm cơ khí truyền thống (hiện có 89 điểm với 2.970 kVAr hạ thế) bằng hệ thống bù tĩnh bán dẫn thông minh trong kế hoạch đầu tư cải tạo lưới điện trung hạn 2020 - 2025 của đơn vị điện lực. Ban Quản lý dự án và các Điện lực trực thuộc huyện Ba Bể, Ngân Sơn chịu trách nhiệm khảo sát và lập danh mục ưu tiên thay thế.
  • Ban hành quy chuẩn kỹ thuật vận hành và quy trình bảo dưỡng định kỳ đối với các thiết bị van bán dẫn công suất, tụ điện và cuộn kháng TCR, giảm thiểu tỷ lệ sự cố điện áp do biến dạng phi tuyến xuống dưới mức 1,0% trong năm đầu vận hành thương mại. Chủ thể phê duyệt và giám sát thực hiện là Tổng công ty Điện lực miền Bắc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị học thuật lẫn ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Kỹ sư quản lý vận hành, điều độ hệ thống điện tại các công ty điện lực trực thuộc Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) và các đơn vị điện lực vùng cao: Giúp nắm bắt phương pháp tính toán dung lượng bù, giải pháp giảm tổn thất trên các tuyến đường dây 35 kV kéo dài trên 100 km.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật điện (Mã ngành 8520201) tại các trường đại học kỹ thuật: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về mô hình hóa hệ thống bù công suất phản kháng FC-TCR, kỹ thuật thiết kế mạch lực bán dẫn và phương pháp chỉnh định bộ điều khiển PID trên MATLAB/Simulink.
  • Doanh nghiệp sản xuất, chế tạo thiết bị điện công nghiệp và giải pháp chất lượng điện năng: Ứng dụng bản vẽ thiết kế nguyên lý, sơ đồ khối mạch phát xung và thuật toán điều khiển để thương mại hóa các dòng sản phẩm tủ bù hạ thế thông minh tự động ổn định điện áp.
  • Cán bộ quản lý năng lượng tại các nhà máy khai thác khoáng sản, khu công nghiệp có hệ thống động cơ không đồng bộ công suất lớn: Hướng dẫn chi tiết các biện pháp nâng cao cos phi tự nhiên và bố trí dung lượng bù kinh tế tại chỗ nhằm tránh bị phạt tiền mua công suất phản kháng hàng tháng.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống bù FC-TCR có ưu điểm gì vượt trội so với tụ bù cơ khí truyền thống? Hệ thống bù FC-TCR kết hợp tụ cố định và cuộn kháng điều khiển bằng góc mở van Thyristor cho phép điều chỉnh trơn, liên tục công suất phản kháng với thời gian đáp ứng cực nhanh dưới 20 mili-giây. Thiết bị khắc phục triệt để hiện tượng bù thừa hay bù thiếu, loại bỏ hồ quang điện đóng cắt của công tắc tơ và nâng tuổi thọ làm việc của tụ điện lên gấp 2 đến 3 lần.

Tại sao xuất tuyến đường dây 371 trạm 110 kV Bắc Kạn lại chịu mức tổn thất công suất cao tới 8,33%? Lộ 371 có tổng chiều dài lên tới 555,5 km chạy qua vùng núi hiểm trở, cấp điện cho 368 trạm biến áp phân phối với mật độ phụ tải rất thưa thớt (bình quân chỉ 104,0 kVA/trạm). Dây dẫn chủ yếu là nhôm lõi thép tiết diện AC50 đến AC95 có trở kháng lớn, cộng với lượng công suất vô công cảm tính từ các động cơ không đồng bộ chạy non tải gây ra dòng phản kháng lớn và phát sinh tổn thất nhiệt cao.

Phương pháp Ziegler-Nichols được áp dụng như thế nào trong việc chỉnh định bộ điều khiển PID của thiết bị bù? Nghiên cứu ứng dụng cả hai phương pháp thực nghiệm Ziegler-Nichols để xác định chính xác các hệ số tỷ lệ Kp, tích phân Ki và vi phân Kd của bộ điều khiển phản hồi cos phi. Thông qua việc phân tích đường cong đáp ứng quá độ bậc thang và xác định hệ số khuếch đại tới hạn trên không gian mô phỏng Simulink, hệ thống triệt tiêu hoàn toàn sai số xác lập và giữ hệ số cos phi ổn định quanh mức 0,98.

Việc lắp đặt thiết bị bù hạ thế có thể giải quyết được hiện tượng quá điện áp khi đường dây non tải không? Thiết bị giải quyết rất hiệu quả bài toán này nhờ nhánh cuộn kháng điều khiển TCR. Khi lưới điện vận hành ở chế độ non tải (đặc biệt vào ban đêm), điện dung ký sinh trên 707,2 km đường dây trung thế sinh ra lượng dư thừa công suất dung làm vọt điện áp; lúc này góc kích Thyristor được tự động điều chỉnh mở rộng để cuộn kháng TCR tiêu thụ lượng vô công dư thừa, ghìm điện áp lưới về mức định mức an toàn.

Hiệu quả kinh tế của thiết bị bù FC-TCR hạ thế so với việc đầu tư máy biến áp tự ngẫu tăng áp 35 kV như thế nào? Đầu tư máy biến áp tự ngẫu 35 kV dung lượng 12.000 kVA đòi hỏi chi phí thiết bị và xây lắp móng cột, trạm biến áp rất đắt đỏ, đồng thời làm tăng tổn thất không tải liên tục. Trong khi đó, việc trang bị các cụm thiết bị bù FC-TCR tại thanh cái hạ áp 0,4 kV có chi phí đầu tư thấp hơn khoảng 35% đến 40%, lắp đặt nhanh gọn, tiêu hao công suất tác dụng cực nhỏ (chỉ 0,003 - 0,005 kW/kVAr) và giải quyết triệt để bài toán chất lượng điện áp từ gốc phụ tải.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích và định lượng toàn diện hiện trạng kỹ thuật lưới điện tỉnh Bắc Kạn, làm rõ nguyên nhân gây ra mức tổn thất công suất 8,33% và sụt áp 5,43% trên xuất tuyến dài 555,5 km của lộ 371 trạm 110 kV E26.1.
  • Xây dựng thành công cơ sở lý thuyết hoàn chỉnh về hệ thống bù tĩnh công suất phản kháng hạ thế theo cấu trúc FC-TCR, kết hợp tối ưu giữa nhánh tụ tĩnh cố định và nhánh điện kháng điều khiển góc mở Thyristor.
  • Thiết kế và mô phỏng chính xác bộ điều khiển PID phản hồi cos phi trên nền tảng MATLAB/Simulink, ứng dụng phương pháp Ziegler-Nichols để tối ưu hóa thời gian đáp ứng quá độ và độ ổn định hệ thống.
  • Chứng minh tính khả thi kỹ thuật khi thiết bị bù giúp nâng cao hệ số công suất từ 0,75 lên mức tiệm cận 0,98 - 0,99, kéo giảm sụt áp cuối nguồn xuống dưới mức quy định 5% và tiết kiệm chi phí so với phương án dùng máy biến áp tự ngẫu.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quy hoạch, cải tạo và số hóa hệ thống bù công suất phản kháng cho Công ty Điện lực Bắc Kạn nói riêng và lưới điện phân phối nông thôn miền núi Việt Nam nói chung.

Kế hoạch phát triển tiếp theo của đề tài là tiến hành chế tạo thử nghiệm phần cứng thiết bị bù mẫu, tích hợp bộ vi điều khiển công nghiệp và thực hiện đo đạc kiểm chuẩn tại 3 trạm biến áp phân phối khu vực Ba Bể trong quý 4 năm 2020. Các đơn vị quản lý vận hành điện lực và kỹ sư quan tâm có thể trực tiếp liên hệ, trao đổi học thuật hoặc tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu tại Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên để tiếp cận chi tiết các giải pháp tính toán và sơ đồ mạch thiết kế.