Luận văn về tái phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam

Nghiên cứu sâu về tái phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam, phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn. Luận văn cung cấp cái nhìn toàn diện về chế định này, đề

Chuyên ngành

Luật hình sự

Tác giả

Lê Thị Ngọc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Luật học

2013

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tái phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam Khái niệm và ý nghĩa pháp lý

Tái phạm là hiện tượng pháp lý hình sự xảy ra khi một người đã bị kết án và chưa được xóa án tích, lại thực hiện hành vi phạm tội mới. Theo Điều 53 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tái phạm được xác định dựa trên ba yếu tố cơ bản: (1) người phạm tội đã từng bị kết án; (2) án tích chưa được xóa; và (3) hành vi phạm tội mới xảy ra sau khi bản án trước có hiệu lực pháp luật. Khái niệm này không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn phản ánh tình nguy hiểm đáng kể của người phạm tội đối với xã hội. Việc xác định tái phạm có ý nghĩa quan trọng trong quá trình định khung hình phạt, bởi đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Theo luận văn thạc sĩ của Lê Thị Ngọc (2013), ý nghĩa pháp lý hình sự của tái phạm nằm ở chỗ: nó cho thấy sự thất bại của biện pháp cải tạo trước đó và mức độ nguy hiểm cao hơn của người phạm tội. Do đó, pháp luật hình sự Việt Nam quy định xử lý nghiêm khắc hơn đối với các trường hợp tái phạm, đặc biệt là tái phạm nguy hiểmtái phạm đặc biệt nguy hiểm. Việc hiểu rõ khái niệm và đặc điểm của tái phạm giúp các cơ quan tố tụng áp dụng đúng pháp luật, tránh bỏ lọt hoặc áp dụng sai lệch.

1.1. Khái niệm tái phạm theo Bộ luật Hình sự Việt Nam

Theo Điều 53 BLHS 2015, tái phạm là trường hợp người phạm tội đã bị Tòa án kết án, chưa được xóa án tích và lại thực hiện hành vi phạm tội mới. Khái niệm này loại trừ các trường hợp bị xử phạt hành chính hoặc chỉ bị khởi tố nhưng chưa xét xử. Một điểm quan trọng là thời điểm phạm tội mới phải xảy ra sau khi bản án trước có hiệu lực pháp luật. Điều này đảm bảo tính chính xác trong việc xác định tình tiết tăng nặng.

1.2. Ý nghĩa pháp lý hình sự của tái phạm

Tái phạm phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với người phạm tội lần đầu. Pháp luật coi đây là dấu hiệu cho thấy người phạm tội không cải tạo được, từ đó yêu cầu áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn. Theo GS. Lê Văn Cảm, việc quy định tái phạm là tình tiết tăng nặng nhằm tăng hiệu quả răn đe và phòng ngừa tội phạm tái diễn.

II. Các hình thức tái phạm và tiêu chí phân loại theo luật hình sự

Pháp luật hình sự Việt Nam phân loại tái phạm thành ba dạng chính: tái phạm thông thường, tái phạm nguy hiểmtái phạm đặc biệt nguy hiểm. Mỗi hình thức này có tiêu chí xác định riêng và hệ quả pháp lý khác nhau. Tái phạm nguy hiểm xảy ra khi người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, chưa được xóa án tích, và lại phạm tội mới thuộc cùng nhóm tội. Trong khi đó, tái phạm đặc biệt nguy hiểm yêu cầu người phạm tội đã hai lần trở lên bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Việc phân loại này giúp định lượng mức độ nguy hiểm của người phạm tội một cách chính xác hơn. Theo luận văn của Lê Thị Ngọc (2013), sự phân biệt này là cần thiết để đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn gặp khó khăn do thiếu hướng dẫn cụ thể về cách xác định nhóm tội phạm hoặc thời điểm xóa án tích.

2.1. Tái phạm nguy hiểm Điều kiện và hệ quả pháp lý

Tái phạm nguy hiểm được xác định khi người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, chưa được xóa án tích, và lại phạm tội mới thuộc cùng nhóm. Hệ quả pháp lý là không được hưởng án treo và có thể bị tăng mức hình phạt đến 2/3 mức tối đa của khung hình phạt.

2.2. Tái phạm đặc biệt nguy hiểm và các trường hợp áp dụng

Đây là hình thức tái phạm nghiêm trọng nhất, yêu cầu người phạm tội đã hai lần trở lên bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Pháp luật quy định không được giảm ánkhông được hưởng án treo, đồng thời là căn cứ để áp dụng hình phạt tù có thời hạn dài hơn hoặc thậm chí tù chung thân.

III. Phân biệt tái phạm với các hiện tượng pháp lý hình sự tương tự

Một trong những thách thức lớn trong thực tiễn áp dụng pháp luật là phân biệt tái phạm với các hiện tượng hình sự tương tự như phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội, hoặc phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Mặc dù đều liên quan đến hành vi phạm tội lặp lại, nhưng bản chất pháp lý của các hiện tượng này khác nhau. Phạm tội nhiều lần là hành vi phạm cùng một tội danh nhiều lần trong một giai đoạn, chưa bị xét xử. Phạm nhiều tội là thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau trong cùng một thời điểm hoặc giai đoạn. Trong khi đó, tái phạm yêu cầu phải có bản án có hiệu lực pháp luật trước đóán tích chưa được xóa. Theo Lê Thị Ngọc (2013), việc nhầm lẫn giữa các khái niệm này dẫn đến áp dụng sai tình tiết tăng nặng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người bị xét xử. Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể từ cơ quan tư pháp để thống nhất cách hiểu và áp dụng.

3.1. Tái phạm và phạm tội nhiều lần Sự khác biệt cốt lõi

Phạm tội nhiều lần xảy ra khi một người thực hiện nhiều hành vi phạm cùng một tội danh trước khi bị xét xử lần đầu. Trong khi đó, tái phạm chỉ được xác định sau khi có bản án có hiệu lực. Đây là ranh giới pháp lý quan trọng để tránh áp dụng trùng lặp tình tiết tăng nặng.

3.2. So sánh tái phạm với phạm nhiều tội và phạm tội chuyên nghiệp

Phạm nhiều tội liên quan đến nhiều tội danh khác nhau, còn tái phạm chỉ xét đến tội danh mới so với tội danh cũ. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp lại nhấn mạnh đến mục đích kiếm sống từ hành vi phạm tội, không nhất thiết có án tích trước. Việc phân biệt rõ giúp đảm bảo công bằng trong xét xửtuân thủ nguyên tắc pháp chế.

IV. Khó khăn và vướng mắc trong áp dụng chế định tái phạm tại Việt Nam

Thực tiễn áp dụng chế định tái phạm tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn và vướng mắc. Một trong những vấn đề nổi cộm là xác định nhầm lẫn hoặc bỏ lọt tái phạm do thiếu thông tin về án tích hoặc hiểu sai quy định pháp luật. Nhiều cơ quan tiến hành tố tụng không thống nhất trong cách xác định thời điểm xóa án tích, dẫn đến việc áp dụng sai tình tiết tăng nặng. Ngoài ra, năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ tư pháp cũng là nguyên nhân khiến chế định này chưa phát huy hiệu quả. Theo luận văn của Lê Thị Ngọc (2013), tình trạng này xuất phát từ thiếu sót trong quy định pháp luật, tính phức tạp tự thân của tái phạm, và thiếu hướng dẫn thống nhất từ Tòa án nhân dân tối cao. Hậu quả là hiệu quả phòng, chống tội phạm bị giảm sút, đồng thời làm xói mòn niềm tin của người dân vào công lý.

4.1. Nguyên nhân dẫn đến áp dụng sai lệch chế định tái phạm

Các nguyên nhân chính bao gồm: (1) quy định pháp luật chưa rõ ràng về thời điểm tính án tích; (2) hệ thống cơ sở dữ liệu án tích chưa được số hóa và chia sẻ liên thông; (3) trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ còn hạn chế. Điều này dẫn đến áp dụng không đồng nhất giữa các địa phương.

4.2. Hậu quả của việc bỏ lọt hoặc áp dụng sai tái phạm

Việc bỏ lọt tái phạm khiến người phạm tội nguy hiểm không bị xử lý nghiêm, trong khi áp dụng sai lại vi phạm quyền con ngườinguyên tắc suy đoán vô tội. Cả hai trường hợp đều làm giảm tính răn đe của pháp luật hình sựgây bất bình trong dư luận.

V. Giải pháp hoàn thiện chế định tái phạm theo hướng thực tiễn và hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả áp dụng chế định tái phạm, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, hoàn thiện quy định pháp luật bằng cách làm rõ các khái niệm, tiêu chí xác định tái phạm nguy hiểmtái phạm đặc biệt nguy hiểm. Tiếp theo, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu án tích quốc gia được số hóa, liên thông giữa các cơ quan tư pháp. Bên cạnh đó, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ điều tra, kiểm sát và xét xử là yếu tố then chốt. Theo khuyến nghị trong luận văn của Lê Thị Ngọc (2013), Tòa án nhân dân tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất trên toàn quốc. Đồng thời, cần rút ngắn thời gian xóa án tích đối với một số nhóm tội ít nguy hiểm để tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng, nhưng siết chặt hơn với tội phạm nghiêm trọng. Những giải pháp này sẽ giúp chế định tái phạm phát huy đúng vai trò trong phòng, chống tội phạmbảo đảm công bằng xã hội.

5.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tái phạm

Cần sửa đổi, bổ sung BLHS và các văn bản hướng dẫn để làm rõ tiêu chí phân loại tái phạm, đặc biệt là mối quan hệ giữa nhóm tội và mức độ nguy hiểm. Đồng thời, cần quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin án tích.

5.2. Ứng dụng công nghệ trong quản lý án tích và hỗ trợ xét xử

Việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu án tích quốc gia giúp tra cứu nhanh chóng, chính xác thông tin về người bị xét xử. Công nghệ AI và blockchain có thể được ứng dụng để đảm bảo tính minh bạch và không thể sửa đổi dữ liệu án tích.

VI. Tái phạm trong pháp luật hình sự quốc tế và bài học cho Việt Nam

Nhiều quốc gia trên thế giới như Đức, Pháp, Nhật Bản đều có quy định về tái phạm với cách tiếp cận tương đồng nhưng linh hoạt hơn. Ví dụ, tại Đức, tái phạm không tự động là tình tiết tăng nặng mà phải được đánh giá toàn diện về nhân thân và hoàn cảnh. Trong khi đó, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ sử dụng hệ thống điểm nguy cơ tái phạm để định lượng mức độ nguy hiểm. Những mô hình này cho thấy xu hướng cá thể hóa hình phạtkết hợp giữa trừng phạt và cải tạo. Theo Lê Thị Ngọc (2013), Việt Nam có thể học hỏi cách phân tầng mức độ tái phạm, sử dụng đánh giá tâm lý – xã hội, và kết hợp tái phạm với các chính sách tái hòa nhập cộng đồng. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả tư pháp mà còn giảm tỷ lệ tái phạm thực tế, góp phần xây dựng xã hội an toàn, bền vững.

6.1. So sánh quy định về tái phạm ở một số nước

Tại Pháp, tái phạm được xem xét trong bối cảnh nhân thân tổng thể, không áp dụng máy móc. Nhật Bản lại chú trọng đến thời gian giữa hai lần phạm tội để đánh giá mức độ cải tạo. Những cách tiếp cận này giúp tránh áp dụng hình phạt quá mức.

6.2. Bài học kinh nghiệm cho hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Việt Nam nên kết hợp đánh giá định lượng và định tính khi xác định tái phạm, đồng thời tăng cường chính sách hỗ trợ tái hòa nhập để giảm nguy cơ tái phạm thực tế. Điều này phù hợp với xu hướng tư pháp phục hồi đang được nhiều nước áp dụng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tái phạm theo pháp luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1V về Tôi phạm trong Sach chuyên khảo Sau đạn học: “Những vẫn để cơ bản trong khoa học luật bình sự - Phần chưng ” của PGS. Lễ Văn Căm do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2005. Tải phạm cũng được nghiền cửa với tư cách là một trong các tình tiết tang nặng TNHS trong các giáo trình luật hình sự của các cơ sỡ đào tạo chuyên ngành: luật hoặc gác sách bình luận khoa học về phân chung bộ luật lành sự. Chẳng bạn như “Giáo trình luật hình sự Phân chưng” của Khoa Luật Dai hoe Quốc gia Ha Nội xuất bán năm 2001 da TSKH.

Lê Văn Cảm chủ biên. Tay “Giáo trình luật hình sự Việt Nam” Tập 1 cũa Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bân năm 2007 bởi tại Khả xuất bán Công, an nhân dân. Hoặc gắn đây nhất là sách “Bình luận. khoa hoc BLHS nim 1999 stra đổi, bổ sung năm 2009 - Phân chung” do TS.

Nguyễn Đức Man chủ biên, Nhà xuất bản Chỉnh trị Quốc gia xuất bản năm 2012. Tuy nhiên, tong các sách này thường chi don thuẩn phân tích nội dụng quy định pháp luậi bình sự tưạc dinh vé tái phạm: Tải phạm còn được đề dộn đến trong một số bài viết đăng trên các lạp chí chuyên ngành luật như: “Hoàn thiện chế định tái phạm, tại phạm nguy hiển” cia táo giả Nguyễn Thị Xuân (Tạp chỉ Tòa án nhân dân số 9 năm 2001); "Những quan diễn khác nhau KHủ xác định tái phạm, tái phạm nguy luỗn theo quy đụh của BLIIS năm 1999 và Nghị quyết số 32/1999/VQ- QII0"cứa tác giá Nguyễn Thị Mai (Tạp chí Tỏa án nhân dân số 1 năm 2003), “Xac dink ti plam, tai phan nguy liểm trong các tôi chiếm đoại có yêu lô đã bị kết án” cửa lá giả Nguyễn Chỉ Công (Tạp chí Tỏa án nhân dân số 15 năm 2004), “ÖXóa án tích với việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm” của tác giả Đỗ Văn Chỉnh (Tạp chí Tỏa án nhân đâm số 23 rữn 2005). Tuy nhiên, các nghuên gím này mới chỉ dừng lại ở cấp độ các bài viết hẹp, để cập đến một khía cạnh của chế định tải phạm hay một vai trường hợp ấp đụng cụ thẻ của chế định nay. Có thẻ nói rắng, cho đến nay Luận vẫn.

Tinh cấp thiết của để tài Tội phạm là những hánh vị nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới các quan hệ xã hội được luật hình sự bâo về. Khi tuội hành vị đã bị Nhà nước coi là tôi phạm (biểu hiện bằng việc quy định nó là một tội danh trong luật hình sự) thi nhất định người thực hiện hành vi ấy phải chịu sự trừng phạt. Sự trừng phạt tôi phạnn bằng các chế tải hành sự - biện pháp xử lý nghiêm khắc nhất gũa. Nhà nước là rất cân thiết nhằm trừng, trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, khôi phục lại công bằng, trật tự cho xã hội, răn đe, ngân ngừa sự phát sinh những tôi phạm mới.

8o với tôi phạm thông thường thì tải phạm là trường hợp plưan lội thể hiện tính nguy hiểm cho xã cao hơn bởi vì tái phạm có nghĩa lá sự phạm tội lân nữa của người trước đây đã từng phạm tội và bị kết án vẻ hảnh vi phạm tội ấy. Tỉnh nguy liểm không phải chỉ thể hiện ở chỗ người này thực hiệu nhiều tội phạm mà quan trọng hơn nữa lả người phạm tội đã bìng gánh chịu tiện pháp xử lý về hình sự, từng được co quan chức năng giáo duc, cai tao nhưng không ăn năn, hếi cải. Vì vậy, tái phạm bị coi là một yếu tế đặc biệt xấu trong nhân thân người phạm tội và được qmy định là một tình tiết làm. tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNH$) đối với người phạm tôi ở hầu khẩu.

các quốc gia trên thể giới. Không gó ai có thể nghỉ ngờ về tính đứng đấu, cổng bằng va cần thiết của đường lỗi xứ lý nghiêm khắc hơn đổi với người tải pham so với trường hợp phạm tôi thông thường. Nhận thức được tình nguy hiểm cao cho xã hội trong trường hợp Lái phạm và sự cần thiết phải xứ lý hình sự nghiêm khắc hơn đổi với người tải phạm, nhà làm huật mước ta đã sởm quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) tăm 1985 và lái khẳng đmh trong BE.HS năm 1999 về tái phạm là tình Hết tăng nặng TNII3. Ngoài ra, tái phạm cũng là tỉnh tiết định tội hoặc định khưng tỉng nặng trong nhiều quy định của hai Bộ luật này.

Ngoài quy định trong hái lân pháp điển hóa luật hình sự nói liêu, Nhà nước tá cũng bạn hành ĐANH MỤC CÁC TU VIET TAT Ky higu viet tat Ý nghĩa BLAS Bo Iuat Hình sự TNIH5 Trách nhiệm hình sự TANDTC Tôa án nhân đân tối cao VESNDTC 'Viện kiểm sắt nhân đân tôi cao. TP Tái phạm TPNI Tái phạm nguy hiểm. 1uột số van bản hướng dẫn thí hành liên quan đến việc áp dụng chế định tái phạm. Tuy nhiên, trong thực tế áp dựng chế định nay bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều khó khấn, vướng mắc, bắt cập như xác định nhằm.

lẫn tái phưmm, bỏ lọt tái phưnn, không thống nhất về áp dụng tái pluann giữa củu cơ quan áp dụng pháp luật. Tinh trạng nảy xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: thiểu sót của các quy định pháp huật vẻ tái phạm, tỉnh phức tạp tự thân của trường hợp tới phạm, năng lực, trình độ của đội ngũ cản bộ áp dụng pháp luật. Tuy vậy nhưng trên tất cả các phương điện lý luận, lập pháp cũng như thực tiễn van dé nay chưa được quam tâm, nghiên gứu, khắc phục, dẫn đêu lĩnh trạng hiện quả áp dụng của chế định tái phạm chưa đáp ứng được yêu cầu đều tranh phéng, chống tội phạm. Vi những lý do đó nên tôi đã lựa chọn đẻ tài: “Mộtsố vấn đã iý luận và thực tiễn vỀ tải phạm theo lật hành sự Vidi Nami” làm đề lài nghiều cứu cho luận văn Thạc sĩ Luật học cúa mình.

Khi thực hiện để tài này, tắc giá mong muốn lâm sảng tô những vấn để lý luận liên quan đến tái phạm, gép phân hoàn thiên chế định ú phạm trong luật bình sự Việt Nam, tháo gỡ những khỏ khăn, vướng mắc, nàng cao hiệu quá áp dụng chế định này trong thực tế giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam. Tình hình nghiên cửu đề tài Mặc đủ còn tôn tại những thiếu sót vẻ mặt lập pháp cũng như khó khăn, yudng unắc trong thực tiễn áp dụng nhưng trên phương diễn lý luận chế định tái phạm vẫn chưa được quan tầm một cách đứng mức để tim ra giải pháp khắc phục toàn điện những vấn đề đỏ. Cho đến nay, chưa có mội. công trình khoa học nao nghiên cứu một cách chuyên sâu, công phu và đây đủ ớ cấp độ một cuốn sách chuyền khảo, một luận văn thạc sĩ hay một luộn đm tiến sĩ về đề tài này Trong khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay, đá: phạm mới chỉ được nghiên cứa chưng trong chế định nhiều (ấa) rội phạm với tư cách là một dang của chế định này.

Ví dụ như được đề cập dén trong sách tham khảo “Chế định tà nhiều tội phạm - Những vẫn đề {ÿ luận và thực tiễn" của TS. Lê Văn Đệ xuất bản năm 2003 bởi Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Ilay được phân tịch trong mục TIT - Chế định nhiều (ấa) tội phạm, chương 1V về Tôi phạm trong Sach chuyên khảo Sau đạn học: “Những vẫn để cơ bản trong khoa học luật bình sự - Phần chưng ” của PGS. Lễ Văn Căm do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2005.

Tải phạm cũng được nghiền cửa với tư cách là một trong các tình tiết tang nặng TNHS trong các giáo trình luật hình sự của các cơ sỡ đào tạo chuyên ngành: luật hoặc gác sách bình luận khoa học về phân chung bộ luật lành sự. Chẳng bạn như “Giáo trình luật hình sự Phân chưng” của Khoa Luật Dai hoe Quốc gia Ha Nội xuất bán năm 2001 da TSKH. Lê Văn Cảm chủ biên. Tay “Giáo trình luật hình sự Việt Nam” Tập 1 cũa Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bân năm 2007 bởi tại Khả xuất bán Công, an nhân dân.

Hoặc gắn đây nhất là sách “Bình luận. khoa hoc BLHS nim 1999 stra đổi, bổ sung năm 2009 - Phân chung” do TS. Nguyễn Đức Man chủ biên, Nhà xuất bản Chỉnh trị Quốc gia xuất bản năm 2012. Tuy nhiên, tong các sách này thường chi don thuẩn phân tích nội dụng quy định pháp luậi bình sự tưạc dinh vé tái phạm: Tải phạm còn được đề dộn đến trong một số bài viết đăng trên các lạp chí chuyên ngành luật như: “Hoàn thiện chế định tái phạm, tại phạm nguy hiển” cia táo giả Nguyễn Thị Xuân (Tạp chỉ Tòa án nhân dân số 9 năm 2001); "Những quan diễn khác nhau KHủ xác định tái phạm, tái phạm nguy luỗn theo quy đụh của BLIIS năm 1999 và Nghị quyết số 32/1999/VQ- QII0"cứa tác giá Nguyễn Thị Mai (Tạp chí Tỏa án nhân dân số 1 năm 2003), “Xac dink ti plam, tai phan nguy liểm trong các tôi chiếm đoại có yêu lô đã bị kết án” cửa lá giả Nguyễn Chỉ Công (Tạp chí Tỏa án nhân dân số 15 năm 2004), “ÖXóa án tích với việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm” của tác giả Đỗ Văn Chỉnh (Tạp chí Tỏa án nhân đâm số 23 rữn 2005).

Tuy nhiên, các nghuên gím này mới chỉ dừng lại ở cấp độ các bài viết hẹp, để cập đến một khía cạnh của chế định tải phạm hay một vai trường hợp ấp đụng cụ thẻ của chế định nay. Có thẻ nói rắng, cho đến nay Luận vẫn. ĐANH MỤC CÁC TU VIET TAT Ky higu viet tat Ý nghĩa BLAS Bo Iuat Hình sự TNIH5 Trách nhiệm hình sự TANDTC Tôa án nhân đân tối cao VESNDTC 'Viện kiểm sắt nhân đân tôi cao. TP Tái phạm TPNI Tái phạm nguy hiểm.

ĐANH MỤC CÁC TU VIET TAT Ky higu viet tat Ý nghĩa BLAS Bo Iuat Hình sự TNIH5 Trách nhiệm hình sự TANDTC Tôa án nhân đân tối cao VESNDTC 'Viện kiểm sắt nhân đân tôi cao. TP Tái phạm TPNI Tái phạm nguy hiểm. “Mật số vấn để lý luận và thực tiền về tải phạm theo luật hình sự Việt Nam” là công trình đầu tiền ở cấp độ luận văn thie sĩ và cũng là công trình đầu tiên nghiên cửu một cách có hệ thống, chuyên sâu về những vấn đề lý luận cũng như thục tiến hẻn. quan đến chế định tái phạm ở Việt Nam hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu để tài Tải pham có thể được nghiên cửu bởi nhiễu chuyên ngành khoa học khác nhau như: khoa học luật hình sự, khoa học thi hành ản, tội phạm học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ