Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động bộ phận sản xuất trực tiếp tại Công ty Scavi Huế - Luận văn kinh tế

Luận văn kinh tế phân tích sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động bộ phận sản xuất trực tiếp tại Công ty Scavi Huế. Khám phá những nhân tố cốt lõi

Trường đại học

Đại học Kinh tế Huế

Chuyên ngành

Quản trị Kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng suất lao động bộ phận sản xuất Scavi Huế

Năng suất lao động là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Tại Công ty Scavi Huế, bộ phận sản xuất trực tiếp đóng vai trò chủ lực trong hoạt động may mặc xuất khẩu. Giai đoạn 2016–2018, tổng số lao động tăng từ 4.980 lên 6.310 người. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận chưa đạt kỳ vọng. Lợi nhuận sau thuế năm 2018 chỉ tăng 4,50% so với mục tiêu 25% mỗi năm. Điều này đặt ra yêu cầu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động. Các yếu tố được xác định gồm: bản thân người lao động, điều kiện làm việc, tổ chức quản lý và trình độ công nghệ. Chỉ tiêu đánh giá năng suất lao động được tính bằng giá trị sản phẩm trên mỗi lao động. Phương pháp thu thập dữ liệu kết hợp giữa tài liệu thứ cấp và khảo sát sơ cấp tại công ty. Kết quả nghiên cứu giúp xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất.

1.1. Khái niệm và chỉ tiêu đo lường năng suất lao động

Năng suất lao động là số lượng sản phẩm hoặc giá trị sản phẩm mà một lao động tạo ra trong một đơn vị thời gian. Có ba chỉ tiêu đo lường chính. Chỉ tiêu theo sản lượng tính số sản phẩm trên mỗi lao động. Chỉ tiêu theo giá trị tính doanh thu hoặc giá trị gia tăng chia cho số lao động. Chỉ tiêu theo thời gian tính thời gian hao phí cho một sản phẩm. Tại Scavi Huế, chỉ tiêu theo giá trị được ưu tiên sử dụng vì doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm may mặc khác nhau. Công thức tính: NSLĐ = Doanh thu / Số lao động sản xuất trực tiếp.

1.2. Đặc điểm bộ phận sản xuất trực tiếp tại Scavi Huế

Bộ phận sản xuất trực tiếp là nơi tạo ra sản phẩm chính của Công ty Scavi Huế. Năm 2018, bộ phận này có 5.896 lao động, chiếm hơn 93% tổng nhân sự. Đội ngũ lao động chủ yếu là nữ, chiếm khoảng 80%. Độ tuổi lao động tập trung từ 18 đến 35 tuổi. Trình độ học vấn phổ thông chiếm tỷ lệ áp đảo với hơn 95% lao động. Công việc sản xuất yêu cầu tay nghề may, kỹ năng thao tác máy và khả năng làm việc theo dây chuyền. Điều kiện nhà xưởng, ánh sáng và chế độ lương thưởng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất làm việc của bộ phận này.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động

Nghiên cứu xác định bốn nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến năng suất lao động tại Scavi Huế. Nhóm thứ nhất gắn với bản thân người lao động. Trình độ văn hóa, tay nghề, kỹ năng và kinh nghiệm quyết định trực tiếp khả năng sản xuất. Người lao động có trình độ cao tiếp thu công nghệ nhanh và sáng tạo trong công việc. Nhóm thứ hai là điều kiện lao động. Môi trường làm việc nóng bức, ồn ào hoặc thiếu ánh sáng làm giảm năng suất. Nhóm thứ ba liên quan đến tổ chức quản lý. Chế độ lương thưởng, chính sách đãi ngộ và phong cách lãnh đạo tác động đến động lực làm việc. Nhóm thứ tư là trình độ công nghệ và thiết bị. Máy móc hiện đại giúp tăng sản lượng và giảm lỗi sản phẩm. Dữ liệu giai đoạn 2016–2018 cho thấy số lao động tăng mạnh nhưng năng suất chưa tương xứng. Biến động lao động lớn, đặc biệt nhóm tuổi 18–25 giảm 14,70% năm 2018, ảnh hưởng đến tính ổn định sản xuất.

2.1. Yếu tố con người và trình độ tay nghề

Bản thân người lao động là nhân tố quan trọng nhất tác động đến năng suất. Tại Scavi Huế, hơn 95% lao động có trình độ phổ thông. Trình độ văn hóa thấp hạn chế khả năng tiếp thu kỹ thuật mới và vận dụng sáng tạo công cụ sản xuất. Tay nghề may quyết định tốc độ và chất lượng sản phẩm. Lao động trẻ từ 18–25 tuổi có ưu điểm nhanh nhẹn nhưng thiếu kinh nghiệm. Nhóm lao động trên 35 tuổi có kỹ năng vững nhưng tốc độ thao tác chậm hơn. Biến động nhân sự lớn khiến việc đào tạo liên tục gặp khó khăn. Điều này làm giảm hiệu quả sản xuất chung của toàn bộ phận.

2.2. Yếu tố tổ chức quản lý và điều kiện sản xuất

Tổ chức quản lý ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động tại Scavi Huế. Chế độ lương thưởng công bằng tạo động lực cho người lao động gắn bó và nỗ lực hơn. Phong cách lãnh đạo bộ phận tác động đến tinh thần làm việc tập thể. Điều kiện nhà xưởng như nhiệt độ, ánh sáng, tiếng ồn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hiệu suất. Quy trình sản xuất được tổ chức theo dây chuyền yêu cầu sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chuyền. Năm 2017, công ty tăng 1.251 lao động để mở rộng sản xuất. Việc tuyển dụng ồ ạt gây áp lực lên công tác đào tạo và quản lý chất lượng sản phẩm.

III. Giải pháp nâng cao năng suất lao động tại Scavi Huế

Từ kết quả phân tích, nhiều giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao năng suất lao động. Giải pháp đầu tiên là nâng cao trình độ tay nghề cho lao động. Công ty cần xây dựng chương trình đào tạo bài bản, định kỳ cho công nhân may. Các khóa học kỹ năng nâng cao giúp lao động thao tác nhanh hơn và giảm tỷ lệ lỗi. Giải pháp thứ hai là cải thiện điều kiện làm việc. Đầu tư hệ thống thông gió, điều hòa không khí và ánh sáng đạt chuẩn giúp người lao động làm việc hiệu quả hơn. Giải pháp thứ ba là hoàn thiện chế độ lương thưởng. Chính sách thưởng theo sản lượng khuyến khích công nhân tăng năng suất cá nhân. Giải pháp thứ tư là ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất. Đầu tư máy móc tự động hóa giảm thời gian gia công và tăng chất lượng thành phẩm. Giải pháp cuối cùng là giảm biến động lao động bằng cách cải thiện phúc lợi và tạo môi trường làm việc thân thiện. Sự kết hợp đồng bộ các giải pháp sẽ mang lại hiệu quả bền vững.

3.1. Đào tạo và phát triển tay nghề lao động

Đào tạo là giải pháp cốt lõi để nâng cao năng suất lao động. Công ty Scavi Huế cần xây dựng kế hoạch đào tạo theo từng cấp độ. Lao động mới cần được hướng dẫn kỹ năng cơ bản trước khi vào dây chuyền sản xuất. Công nhân có kinh nghiệm được đào tạo nâng cao để xử lý sản phẩm phức tạp. Chương trình đào tạo nên kết hợp giữa lý thuyết và thực hành trực tiếp tại xưởng. Việc đánh giá tay nghề định kỳ giúp phân công công việc phù hợp với năng lực từng người. Công ty cũng nên áp dụng hình thức đào tạo nội bộ, nơi người giỏi hướng dẫn người yếu hơn. Giải pháp này tiết kiệm chi phí và tăng tính gắn kết trong đội ngũ sản xuất.

3.2. Cải thiện điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ

Điều kiện lao động tốt giúp tăng năng suất và giảm tỷ lệ nghỉ việc. Công ty cần đầu tư hệ thống làm mát và thông gió cho nhà xưởng sản xuất. Ánh sáng đầy đủ tại các chuyền may giúp giảm lỗi và tăng tốc độ thao tác. Chế độ lương thưởng cần phản ánh đúng năng suất cá nhân. Hình thức thưởng theo sản lượng khuyến khích lao động tăng hiệu suất. Công ty nên xây dựng chế độ bảo hiểm và phúc lợi đầy đủ để giữ chân lao động giỏi. Hoạt động chăm sóc đời sống tinh thần như du lịch, sự kiện nội bộ cũng góp phần nâng cao tinh thần làm việc tập thể.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn tại doanh nghiệp

Nghiên cứu đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động bộ phận sản xuất tại Công ty Scavi Huế. Bốn nhóm yếu tố chính bao gồm: bản thân người lao động, điều kiện làm việc, tổ chức quản lý và trình độ công nghệ. Trong đó, yếu tố con người có tác động mạnh mẽ nhất. Trình độ học vấn phổ thông chiếm tỷ lệ cao khiến việc tiếp thu kỹ thuật mới gặp hạn chế. Biến động lao động lớn cũng là nguyên nhân làm giảm hiệu quả sản xuất. Giai đoạn 2016–2018, số lượng lao động tăng nhanh nhưng tốc độ tăng trưởng doanh thu chưa đạt kỳ vọng. Các giải pháp đề xuất tập trung vào đào tạo tay nghề, cải thiện điều kiện làm việc và ứng dụng công nghệ mới. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho ban lãnh đạo Scavi Huế trong việc hoạch định chiến lược nhân sự. Ứng dụng thực tiễn giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường may mặc xuất khẩu quốc tế.

4.1. Tổng hợp kết quả nghiên cứu chính

Nghiên cứu thu thập dữ liệu giai đoạn 2016–2018 tại Scavi Huế. Tổng lao động tăng từ 4.980 lên 6.310 người. Lao động sản xuất trực tiếp chiếm hơn 93% tổng nhân sự. Lợi nhuận sau thuế năm 2018 chỉ tăng 4,50%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 25%. Kết quả phân tích cho thấy trình độ tay nghề và biến động nhân sự là hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất. Nhóm lao động tuổi 18–25 giảm mạnh năm 2018 gây mất ổn định sản xuất. Chế độ lương thưởng chưa đủ hấp dẫn để giữ chân lao động có kinh nghiệm. Các yếu tố về điều kiện vật chất và tổ chức quản lý cũng tác động đáng kể đến hiệu suất làm việc của bộ phận sản xuất trực tiếp.

4.2. Ứng dụng và hướng phát triển đề tài

Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng trực tiếp vào thực tiễn quản lý tại Scavi Huế. Ban lãnh đạo sử dụng dữ liệu để xây dựng chính sách đào tạo và phúc lợi phù hợp. Các doanh nghiệp may mặc khác tại khu vực miền Trung cũng có thể tham khảo mô hình nghiên cứu. Hướng phát triển đề tài bao gồm mở rộng phạm vi khảo sát sang nhiều năm hơn. Nghiên cứu bổ sung có thể áp dụng phương pháp định lượng để đo lường chính xác mức độ ảnh hưởng từng yếu tố. Việc so sánh năng suất lao động với các đối thủ trong ngành giúp đánh giá vị thế cạnh tranh. Đề tài cũng gợi ý xây dựng hệ thống đánh giá năng suất định kỳ phục vụ quản lý chiến lược dài hạn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/04/2026
Luận văn kinh tế nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của bộ phận sản xuất trực tiếp tại công ty scavi huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về năng suất - Theo quan niệm truyền thống: Khái niệm năng suất được hiểu khá đơn giản là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào. Nếu đầu ra lớn hơn đạt được từ một lượng đầu vào giống nhau hoặc với đầu ra giống nhau từ một đầu vào nhỏ hơn thì có thể nói rằng năng suất cao hơn. Những năm gần đây khái niệm năng suất được hoàn thiện bổ sung thêm những nội dung mới cho thích ứng với tình hình kinh tế xã hội và những thay đổi của môi trường kinh doanh hiện nay.

[20] Theo Từ điển Oxford: “Năng suất là tính hiệu quả của hoạt động sản xuất được đo bằng việc so sánh giữa khối lượng sản xuất trong những thời gian hoặc nguồn lực được sử dụng để tạo ra nó” [13] Theo từ điển kinh tế học hiện đại của MIT (Mỹ): “Năng suất là đầu ra trên một đơn vị đầu vào được sử dụng. Tăng năng suất xuất phát từ tăng tính hiệu quả của các bộ phận vốn, lao động. Cần thiết phải đo năng suất bằng đầu ra thực tế, nhưng rất ít khi tách riêng biệt được năng suất của nguồn vốn và lao động” [13] Năm 1950, tổ chức hiệp tác kinh tế Châu Âu đưa ra định nghĩa chính thức như sau: “Năng suất là thương số thu được bằng cách chia đầu ra cho một trong những nhân tố sản xuất. Trong trường hợp này có thể nói về năng suất của vốn, năng suất đầu tư hoặc năng suất của nguyên vật liệu, tuỳ theo cách xem xét đầu ra trong mối quan hệ với vốn, đầu tư hay nguyên liệu” Như vậy, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về năng suất nhưng tất cả các quan niệm đó đều dựa trên một cách chung nhất đó là: “Năng suất là tỷ số giữa đầu ra và những đầu vào được sử dụng để tạo ra đầu ra đó.

Về mặt toán học năng suất được phản ánh bằng: P = tổng đầu ra / tổng đầu vào” [13] SVTH: Nguyễn Hưng Nhật Cường 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Diệu Thúy Đầu ra được phản ánh dưới nhiều tên gọi khác nhau như: “Tập hợp các kết quả”; “Thực hiện ở các mức độ cao nhất”; “Tổng đầu ra hữu hình”; “Toàn bộ đầu ra có thể được”. Cụ thể trong các doanh nghiệp đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất hay giá trị gia tăng, hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật. Ở cấp độ vĩ mô người ta thường sử dụng GDP như đầu ra chủ yếu để tính năng suất.

Đầu vào được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra. Đó là lao động, nguyên liệu, vốn, thiết bị, năng lượng, kỹ thuật, kỹ năng quản lý. Việc chọn đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo ra các mô hình đánh giá năng suất khác nhau. Đặc điểm của quan niệm truyền thống là tập trung nhấn mạnh đến yếu tố đầu vào như lao động, vốn (năng lượng, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ) trong đó yếu tố lao động là trung tâm.

- Theo cách tiếp cận mới về năng suất của cơ quan năng suất Châu Âu (EPA) đưa ra: “Năng suất là một trạng thái tư duy. Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con người có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa nó đòi hỏi những cố gắng không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong những điều kiện luôn thay đổi.

Đó là sự tin tưởng chắc chắn trong quá trình tiến triển của loài người”. Theo cách tiếp cận mới năng suất trở thành một khái niệm động, tổng hợp nhiều yếu tố, cần phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với bản chất và môi trường kinh tế xã hội mà trong đó các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tính chất tổng hợp còn thể hiện trong chất lượng, đặc điểm của đầu ra và hiệu quả của các yếu tố đầu vào được xem xét ở mọi cấp độ khác nhau như quốc tế, quốc gia doanh nghiệp và từng cá nhân. [13] Khái niệm năng suất phản ánh tính lợi nhuận, tính hiệu quả, giá trị chất lượng, sự đối mới chất lượng cuộc sống.

Đó là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội được lượng hoá bằng mức tăng giá trị gia tăng của tất cả các nguồn lực và yếu tố tham gia vào một quá trình hay một loạt các hoạt động kinh tế trong một thời gian nhất định. Năng suất là một trạng thái tổng hợp cách thức hoạt động của con người và các doanh nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Nhật Cường 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Diệu Thúy Năng suất được hình thành với sự đóng góp của tất cả các hoạt động trong các hoạt động trong các chuỗi giai đoạn có liên quan từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, cung ứng cho nhà tiêu dùng, bảo dưỡng. Năng suất phải tính đến tác động tổng hợp của hàng loạt các yếu tố và tập trung vào sự thực hiện của doanh nghiệp.

Điểm căn bản nhất của cách tiếp cận mới về năng suất là tăng số lượng đồng thời tăng chất lượng. Điều này có nghĩa là sử dụng cùng một khối lượng nguyên liệu, lao động, vốn, năng lượng… để sản xuất một khối lượng lớn hơn các đầu ra có cùng chất lượng hoặc chất lượng cao hơn. Với quan niệm như vậy, năng suất có thể hiểu là trả ít hơn và nhận nhiều hơn mà không tổn hại đến chất lượng. Ngày nay, năng suất và chất lượng đã trở thành đồng hướng, thống nhất.

Chất lượng của đội ngũ lao động, chất lượng của sản phẩm và dịch vụ, chất lượng của môi trường kinh tế xã hội và chất lượng của năng lực quản lý điều hành sản xuất kinh doanh. Khái niệm về năng suất lao động - Theo C.Mác thì NSLĐ là “sức sản xuất của lao động cụ thể có ích”. NSLĐ thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của con người trong một đơn vị thời gian nhất định. [9] - Theo quan niệm truyền thống: NSLĐ là tỷ số giữa đầu ra với đầu vào, là lượng lao động để tạo ra đầu ra đó.

NSLĐ được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hoặc bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. [20] - Theo quan điểm tiếp cận mới về NSLĐ do Ủy ban năng suất của Hội đồng năng suất Châu Âu đưa ra: NSLĐ là một trạng thái tư duy. Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con người có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay.

Hơn nữa đó đòi hỏi những cố gắng không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong điều kiện luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết và phương pháp mới. Đó là sự tin tưởng chắc chắn trong quá trình phát triển của con người. [20] - Ở quan điểm truyền thống: NSLĐ thuần túy thể hiện mối tương quan chặt chẽ giữa “đầu ra” và “đầu vào”. Nếu đầu ra lớn hơn đạt được từ một đầu vào thì có thể SVTH: Nguyễn Hưng Nhật Cường 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.

Hoàng Thị Diệu Thúy nói NSLĐ cao hơn. Quan niệm này đề cập về mặt tĩnh và chủ yếu nhấn mạnh về mặt số lượng. Những năm gần đây khái niệm năng suất được hoàn thiện bổ sung thêm những nội dung mới cho thích ứng với tình hình kinh tế xã hội và những thay đổi của môi trường kinh doanh hiện nay. Đối với quan điểm hiện đại thì NSLĐ được hiểu một cách rộng hơn, đó là tăng số lượng sản xuất đồng thời tăng chất lượng đầu ra.

Điều này có nghĩa là sử dụng một lượng lao động để sản xuất ra một khối lượng lớn các đầu ra có cùng chất lượng hoặc có chất lượng cao hơn. Vì vậy, năng suất cũng có thể hiểu là trả ít hơn nhưng nhận nhiều hơn mà không ảnh hưởng xấu đến chất lượng. NSLĐ không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn là chất lượng, đặc điểm của đầu ra và tính hiệu quả trong sản xuất. Thời đại ngày nay, năng suất và chất lượng trở thành đồng hướng thống nhất với nhau.

NSLĐ cao phải tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có những đặc điểm kỹ thuật và chức năng sử dụng thỏa mãn nhu cầu của công nhân sản xuất trực tiếp cũng như đòi hỏi của xã hội, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm và ít gây lãng phí trong quá trình sản xuất. [20] Qua những khái niệm trên, ta có thể khẳng định rằng NSLĐ là hiệu quả sản xuất của lao động có ích trong khoảng thời gian nhất định. Tăng NSLĐ không chỉ là chỉ tiêu phản ánh lượng sản phẩm nó sản xuất ra mà còn là thể hiện mối quan hệ giữa năng suất – chất lượng – cuộc sống – việc làm và sự phát triển bền vững. Vì vậy, để có thể đánh giá về năng suất lao động của một Công ty, ta có thể dựa vào mức độ hoàn thành công việc theo kế hoạch, chất lượng của sản phẩm được tạo ra, cũng như sự hăng hái của người lao động trong quá trình tham gia sản xuất.

Đặc điểm về tăng năng suất lao động Tăng năng suất lao động là “Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn” - Năng suất lao động tăng lên biểu hiện ở chỗ phần lao động sống giảm bớt, phần lao động quá khứ tăng lên, nhưng tăng như thế nào đó để tổng hao phí lao động chứa đựng trong hàng hoá giảm ấy giảm đi; nói cách khác lao động sống giảm nhiều hơn lao động quá khứ tăng lên [9] SVTH: Nguyễn Hưng Nhật Cường 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Diệu Thúy - Theo C.Mác: Trong quá trình sản xuất sản phẩm, lao động sống và lao động quá khứ bị hao phí theo những lượng nhất định. Lao động sống là lao động mà con người bỏ ra ở hiện tại. Lao động quá khứ là lao động ở giai đoạn trước đã chuyển vào giá trị sản phẩm.

Hạ thấp chi phí lao động sống nêu rõ đặc điểm tăng năng suất lao động cá nhân. Hạ thấp chi phí lao động sống và lao động quá khứ nêu rõ đặc điểm tăng năng suất lao động xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ