CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Trong điều kiện thị trường tài chính Việt Nam đang hội nhập thì việc thiết lập kiểm soát nội bộ (KSNB) hoạt động tín dụng theo Ủy ban Tổ chức tài trợ (COSO) là cần thiết để đảm bảo an toàn tín dụng cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Theo đó, KSNBhoạt động tín dụng là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, cơ cấu của tổ chức tín dụng được xây dựng và tổ chức thực hiện nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro tín dụng. Hoạt động kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh có nhiều rủi ro khi có gian lận và sai sót. Rủi ro xuất phát từ các yếu tố chủ quan từ phía ngân hàng, khách hàng, hay các yếu tố khách quan như thiên tai, bệnh dịch, biến động nền kinh tế thị trường, hành langpháp lý… Việc bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM) luôn được quan tâm đặc biệt.
Một ngân hàng gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh có thể gây nên đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống tài chính – ngân hàng, ảnh hưởng rất lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. KSNB có vai trò vô cùng quan trọng trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng. KSNB tốt có thể trợ giúp cho các nhà quản lý ngân hàng trong việc ngăn chặn gian lận và sai sót. KSNB bộ tốt còn trợ giúp cho kiểm toán độc lập có được những bằng chứng tin cậy trong việc đánh giá tính trung thực và hợp lý tình hình tài chính của ngân hàng.
Trước yêu cầu đó, ngày 18/05/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống KSNB và ngân hàng thương mại, ngân hàng nước ngoài nhằm định hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống KSNB tại các NHTM. Tuy nhiên, thực tế tổ chức và hoạt động của KSNB tại các NHTM vẫn còn nhiều bất cập, việc triển khai và vận dụng các quy định pháp lý, quản trị còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá KSNB, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện KSNB trong các NHTM để đảm bảo sự phát triển lành mạnh, an toàn là vấn đề cấp thiết. ii Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, NHTM đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất.
Nhờ có hoạt động của hệ thống NHTM và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội. Tín dụng là hoạt động kinh doanh truyền thống của NHTMCP nói chung và đối với Ngân hàng TMCP Quân Đội MB cũng không là ngoại lệ, với dư nợ chiếm 60% tổng tài sản và thu nhập từ hoạt động cho vay thường chiếm từ 80-85% tổng thu nhập của ngân hàng. Do đó, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có xu hướng tập trung vào hoạt động tín dụng, gây hậu quả nặng nề không chỉ đối với bản thân Ngân hàng TMCP Quân Đội mà còn đối với cả nền kinh tế. Với vị thế là NHTM hàng đầu Việt Nam, trải qua 26 năm tồn tại và phát triển, Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) đã phấn đấu khẳng định vị thế của mình, luôn tiên phong trong lĩnh vực tín dụng với mức tăng trưởng nhanh và mạnh.
Quản trị rủi ro vượt trội luôn là nền tảng trọng yếu ở các giai đoạn chiến lược của MB và cũng là chuyển dịch rất quan trọng trong nhóm 4 chuyển dịch chiến lược của ngân hàng giai đoạn 2017 – 2021, mà trong đó triển khai và ứng dụng Basel II là cốt lõi. Do đó đòi hỏi KSNB hoạt động tín dụng luôn là vấn đề được chú trọng ở hiện tại và tương lai với xu hướng hội nhập sâu của nền kinh tế như hiện nay. Xuất phát từ những lý do đó, nhận thức rõ vai trò, tính cấp thiết của công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng, tác giả lựa chọn đề tài: “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội- chi nhánh Thanh Xuân” để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ của mình. iii CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại NHTM đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Khi đề cập đến khái niệm NHTM, có rất nhiều phát biểu khác nhau tuỳ vào từng quốc gia. Ở Mỹ, khái niệm ngân hàng thương mại được quy định là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Trong khi đó ở Thổ Nhĩ Kỳ quy định ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn được thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác.
Ở Pháp, hệ thống ngân hàng thương mại được quy định là một xí nghiệp hay cơ sở mà nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và dịch vụ tài chính. Tại Việt Nam, khái niệm NHTM được nhắc đến trong một số văn bản sau: Luật các tổ chức tín dụngsố 47/2010/QH 12, sửa đổi, bổ sung năm 2017): NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) iv Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Như vậy NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Từ đó có thể nói bản chất của NHTM được thể hiện qua các điểm sau: – NHTM là một tổ chức kinh tế. – NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Nói tóm lại, NHTM là một định chế tài chính trung gian có khả năng thực hiện toàn bộ các dịch vụ tài chính ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận.
Vai trò của ngân hàng thương mại - Khuyến khích tiết kiệm, góp phần hình thành và hỗ trợ các dòng vốn luân chuyển - Phân bổ vốn hữu hiệu giữa các ngành, các lĩnh vực - Giảm chi phí, tối thiểu hóa rủi ro. - Hỗ trợ đổi mới công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất. - Hoạt động của NHTM góp phần nâng cao môi trường kinh doanh, xây dựng văn hóa kinh doanh đối với các doanh nghiệp. Khái quát về kiểm soát nội bộ Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu về KSNB đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau về KSNB.
Tuy nhiên, hiện nay định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất và sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới đó là định nghĩa của COSO. COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận trong BCTC (National Commssion on Financial Reporting, hay còn gọi là Treadway Commission), bao gồm đại diện của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội kiểm toán nội bộ (IIA), Hiệp v hội quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội kế toán quản trị (IMA). Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS – Basel Committee onBanking Supervision) cũng dựa trên báo cáo COSO 1992 để đưa ra lý thuyếtvề kiểm soát nội bộ ngân hàng. Theo Basel (1998), KSNB là một quá trình bị chi phối bởi Hội đồng Quản trị, các nhà quản lý cao cấp và nhân viên.
Nó không chỉ là một thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một thời điểm cụ thể mà là một hoạt động liên tục ởmọi cấp trong ngân hàng. HĐQT, các nhà quản lý cao cấp có trách nhiệm thiết lập một nền văn hóa thích hợp để trợ giúp cho quá trình KSNB cũng như liên tục giám sát sự hữu hiệu của nó, tuy nhiên mỗi cá nhân trong tổ chức phải tham gia quá trình này. Nội dung kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 2. Đặc điểm chung của hoạt động tín dụng ảnh hưởng đến kiểm soát nội bộ Hoạt động tín dụng luôn tiềm tàng những loại rủi ro phức tạp nhất trong việc quản lý và phòng ngừa đối với ngân hàng vì nó có thể xảy ra bất cứ đâu và bất cứ lúc nào.
Rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đối với không chỉ bản thân ngân hàng mà còn đối với nền kinh tế. Để ngăn chặn, các ngân hàng cần thực thi KSNB chặt chẽ, vì khi hệ thống này hoạt động có hiệu quả sẽ giảm thiểu những tổn thất và rủi ro xảy ra trong ngân hàng. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Đối với khách hàng, phần lớn khoản cấp tín dụng cho cá nhân là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.