Phần mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, các mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giới thiệu phƣơng pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài, điểm nổi bật của đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 - Phần nội dung gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận về dịch vụ Ngân hàng thƣơng mại, sự hài lòng của khách hàng và mô hình nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động dịch vụ tại NHNo&PTNT Việt Nam - chi nhánh Tân Bình và khảo sát sự hài lòng của khách hàng. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ tại NHNo&PTNT Việt Nam - CN Tân Bình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI, SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về dịch vụ NHTM 1. Khái niệm dịch vụ NHTM Dịch vụ ngân hàng đƣợc hiểu là các dịch vụ tài chính mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản… Qua đó, ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí từ các sản phẩm dịch vụ này. Trong xu hƣớng phát triển hiện nay, ngân hàng đƣợc coi nhƣ một siêu thị dịch vụ với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát triển của ngân hàng. Có hai khái niệm dịch vụ ngân hàng: Quan điểm thứ nhất cho rằng, các hoạt động sinh lời của ngân hàng ngoài hoạt động cho vay thì đƣợc gọi là hoạt động dịch vụ.
Sự phân định nhƣ vậy cho phép ngân hàng thực thi chiến lƣợc tập trung đa dạng hóa, phát triển và nâng cao hiệu quả của các hoạt động tín dụng. Quan điểm thứ hai thì cho rằng, tất cả các hoạt động kinh doanh của một ngân hàng đều đƣợc coi là hoạt động dịch vụ, bao gồm cả hoạt động tín dụng. Trong phân tổ các ngành của nền kinh tế thì ngành ngân hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ vì thế có thể xem hoạt động cho vay là một hoạt động dịch vụ của ngân hàng. Trong điều 98 luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 cũng nhắc đến các hoạt động của NHTM bao gồm: Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 nƣớc và nƣớc ngoài. Cấp tín dụng dƣới các hình thức cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá khác; bảo lãnh ngân hàng; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán trong nƣớc; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng đƣợc phép thực hiện thanh toán quốc tế; các hình thức cấp tín dụng khác sau khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận. Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng. Cung ứng các phƣơng tiện thanh toán.
Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây: Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nƣớc bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thƣ tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ; Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận. Nhƣ vậy, đề tài nghiên cứu sẽ tiếp cận khái niệm dịch vụ NHTM theo quan điểm thứ hai đó là dịch vụ NHTM bao gồm tất cả các dịch vụ trong đó có hoạt động tín dụng. Đặc điểm của dịch vụ NHTM − Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ ngân hàng thể hiện qua việc khách hàng không nhìn thấy, không thể nắm giữ đƣợc, đặc biệt là khó khăn trong đánh giá chất lƣợng sản phẩm dịch vụ trƣớc khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua. Để giảm bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lƣợng sản phẩm dịch vụ nhƣ địa điểm giao dịch, mức độ trang bị công nghệ, uy tín của ngân hàng, phong cách phục vụ, phí dịch vụ, lãi suất… − Tính không tách rời của sản phẩm dịch vụ ngân hàng đƣợc thể hiện trong quá trình cung ứng sản phẩm của ngân hàng.
Thực tế cho thấy, quá trình cung ứng sản phẩm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 dịch vụ ngân hàng thƣờng diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ. Chính điều này đã làm cho sản phẩm dịch vụ ngân hàng không có khả năng lƣu trữ. Lý do này đòi hỏi ngân hàng phải có hệ thống, phƣơng pháp phục vụ nhanh với nhiều quầy, địa điểm giao dịch. − Quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng có sự tham gia đồng thời của cả cơ sở vật chất, khách hàng và nhân viên ngân hàng.
Nhân viên là yếu tố quan trọng trong quá trình cung ứng, chuyển giao sản phẩm dịch vụ ngân hàng. − Sản phẩm kinh doanh của NHTM là các dịch vụ gắn liền với sự chu chuyển tiền tệ của nền kinh tế, đáp ứng các giao dịch phát sinh giữa các chủ thể mà các giao dịch này cần thiết sử dụng tiền để đo lƣờng, tính toán giá trị, thanh toán. Vì vậy hoạt động cũng nhƣ các sản phẩm dịch vụ của NHTM luôn chịu sự kiểm soát chặt chẽ của NHNN nhằm ổn định tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng tài chính có thể xảy ra. − Hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào lòng tin mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng.
Nếu NHTM tạo dựng đƣợc sự tin tƣởng từ phía khách hàng thì sẽ dễ dàng đƣa sản phẩm dịch vụ của mình đến với khách hàng, nếu NHTM có biến động gây ảnh hƣởng xấu đến niềm tin của khách hàng, sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng nhất là hiện tƣợng rút vốn ồ ạt từ phía khách hàng gây mất khả năng thanh khoản. − Dịch vụ NHTM mang tính liên kết, tính hệ thống giữa các ngân hàng. Nền kinh tế ngày càng phát triển thì sự liên kết giữa các ngân hàng càng mạnh mẽ, tính hệ thống càng cao, nhằm mang đến cho khách hàng những dịch vụ ngân hàng hiện đại, thuận tiện nhất cho khách hàng. Các dịch vụ chủ yếu của NHTM Căn cứ theo các tiêu chí khác nhau dịch vụ của NHTM có thể đƣợc phân chia theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 quy mô giao dịch gồm dịch vụ ngân hàng bán buôn và dịch vụ ngân hàng bán lẻ; theo thời hạn cung ứng dịch vụ gồm dịch vụ ngân hàng ngắn hạn và dịch vụ ngân hàng trung dài hạn; theo tính chất của nghiệp vụ NHTM gồm dịch vụ huy động vốn, dịch vụ tín dụng, dịch vụ thanh toán, dịch vụ uỷ thác và dịch vụ khác.
Đề tài tiếp cận theo cách phân chia dựa trên quá trình phát triển của NHTM bao gồm dịch vụ ngân hàng truyền thống và dịch vụ ngân hàng hiện đại. Dịch vụ ngân hàng truyền thống Dịch vụ ngân hàng truyền thống là các hoạt động dịch vụ, các sản phẩm đã thực hiện trong nhiều năm trên nền công nghệ cũ, quen thuộc với khách hàng bao gồm dịch vụ huy động vốn, dịch vụ chiết khấu thƣơng phiếu và chứng từ có giá, dịch vụ cho vay, dịch vụ thanh toán, dịch vụ trao đổi ngoại tệ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ cung cấp các tài khoản giao dịch. Dịch vụ huy động vốn Huy động vốn là một trong các nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn của NHTM, thông qua việc ngân hàng nhận ký thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Huy động vốn là hoạt động tạo nên nguồn vốn cho NHTM, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn nên đóng vai trò quan trọng, ảnh hƣởng đến quy mô và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
NHTM cần nghiên cứu để đƣa ra chính sách huy động vốn với tính cạnh tranh cao để tập trung thu hút nguồn vốn của nền kinh tế. Vốn huy động đƣợc là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu nên việc huy động vốn và sử dụng vốn này phải tuân thủ các quy tắc hoàn trả, trả lãi và bảo mật thông tin khách hàng. Huy động vốn là nền tảng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM. Thông qua huy động vốn, NHTM hình thành nguồn vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thực hiện cho các nghiệp vụ cho vay, tài trợ, đầu tƣ, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán, ủy thác.tạo ra nguồn lợi nhuận, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của NHTM.
Huy động vốn là cơ sở để ngân hàng thu hút khách hàng đến giao dịch góp phần nâng cao uy tín và thƣơng hiệu của ngân hàng. Các hình thức huy động vốn chủ yếu của NHTM bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi định kỳ, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá, tiền gửi thanh toán khác theo yêu cầu của khách hàng gắn liền với các nghiệp vụ khác nhƣ tiền gửi ký quỹ phát hành thƣ tín dụng (L/C), tiền gửi đặt cọc, tiền gửi séc bảo chi., vốn đi vay từ các NHTM khác thông qua thị trƣờng liên ngân hàng, vay NHNN dƣới hình thức tái cấp vốn, chiết khấu, tái chiết khấu hoặc là cho vay thanh toán. Dịch vụ tín dụng NHTM là định chế tài chính trung gian đóng vai trò là "cầu nối" giữa cung và cầu vốn, NHTM huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và sử dụng vốn này để cấp tín dụng cho những chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn. Tín dụng thể hiện mối quan hệ phát sinh giữa ngân hàng với khách hàng, trong đó ngân hàng là chủ thể cấp tín dụng cho khách hàng dƣới các hình thức bằng tiền hoặc tài sản trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận với cam kết là khách hàng phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn.
Tín dụng là nghiệp vụ quan trọng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng, tuy nhiên luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do vậy hoạt động cấp tín dụng của NHTM phải dựa trên khung pháp lý và đƣợc NHNN kiểm soát chặt chẽ, bên cạnh đó khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng cần phải tuân thủ quy trình tín dụng, mọi hoạt động tác nghiệp phải đƣợc kiểm tra, giáp sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo khách hàng trả nợ gốc và lãi đúng hạn, hạn chế nợ xấu.