CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1. Lý do của nghiên cứu: Giả thuyết thị trường chứng khoán hiệu quảđược đề xuất bởi Fama (1970), theo đó khi thị trường là hiệu quả dạng yếu, chuyển động của giá cổ phiếu được mô tả bằng bước đi ngẫu nhiên. Khi một chuỗi dữ liệu chỉ số chứng khoán tuân theo bước đi ngẫu nhiên sẽ không tồn tại hiện tượng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường. Ngược lại, nếu giá cổ phiếu hội tụ về giá trị trung bình hay có tính dừng nghĩa là mức giá sẽ trở lại xu hướng theo thời gian.
Từ quan điểm đầu tư, điều này đảm bảo rằng người ta có thể dự báo biến động giá cổ phiếu trong tương lai dựa trên hành vi trong quá khứ, và chiến lược kinh doanh có thể được phát triển để thu lợi nhuận cao hơn mức trung bình. Trước đây có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề tính dừng trong giá cổ phiếu bằng cách sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng không có sự đồng thuận giữa các nghiên cứu do những kết quả không thuyết phục do những vấn đề sau: Đầu tiên, tôinhận thấy rằng có rất ít các nghiên cứu về thị trường hiệu quả quan tâm đến mức độ phát triển kinh tếkhác nhau ở các thị trường chứng khoán. Tại các thị trường phát triển, việc nới lỏng lãi suất, sự linh hoạt tỷ giá hối đoái và việc tư nhân hóa ngân hàng thường tự do hơn so với tại các thị trường mới nổi. Bên cạnh đó, so với ở thị trường phát triển, thị trường mới nổi là tương đối cô lập đối với thị trường vốn của các nước khác và có một mối tương quan tương đối thấp với các thị trường phát triển mạnh, đặc biệt là Hoa Kỳ.
Thứ hai, bất chấp có rất nhiều các nghiên cứu về hành vi của giá cổ phiếu, kết quả thường cho thấy đặc điểm của sự biến động của chỉ số giá là bất biến theo thời gian (time-invariant). Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây thấy rằng chỉ số giá cổ phiếu có xu hướng được xác định như một quá trình tạo dữ liệu phi tuyến tính (non-linear data-generating process). Điều này cho thấy biến động là không bất 2 biến theo thời gian. Do đó, độ tin cậy của kết quả của các nghiên cứu hiện tại cần được đặt câu hỏi (xem Kanas, 2001; Narayan, 2005; Qi, 1999).
Thứ ba,phần lớn các nghiên cứu áp dụng các phương pháp truyền thống để kiểm định giả thuyết tồn tại nghiệm đơn vị của giá cổ phiếu. Dễ thấy rằng kết quả kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp truyền thống là không mạnh mẽ nếu chuỗi dữ liệu tồn tại điểm gãy cấu trúc (xem Perron, 1989).2 chúng ta có thể thấy hầu hết các chuỗi giá cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi nhiều điểm gãy cấu trúc. Các điểm gãy cấu trúc này có thể liên quan với các sự kiện trong nước hay quốc tế như tự do hóa thị trường tài chính, sự hội nhập, những quy định mới hay toàn cầu hóa,…Việc xem xét các điểm gãy cấu trúc cho phép chúng ta có được thông tin chi tiết hơn về hành vi của giá cổ phiếu. Cuối cùng,rất nhiều tài liệukiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định tính dừng dữ liệu bảngkhông cho phépmột cách rõ ràngchosự phụ thuộcchéo giữa các chuỗi dữ liệu, dẫn đến sự thiếu sót của kết quả (large size distortion) (xemBanerjeevà cộng sự năm2005, MaddalavàWu năm1999;O'Connell năm1998) Vì vậy để khắc phục những hạn chế của những nghiên cứu trước đây tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Mục tiêu của nghiên cứu: Mục đích của nghiên cứu này là để xem xét liệu thị trường chứng khoán có tuân theo giả thuyết thi trường hiệu quả hay không bằng cách sử dụng phương pháp kiểm định tính dừng dữ liệu bảng có xem xét nhiều điểm gãy cấu trúc cho nhiều thị trường với mức độ phát triển khác nhau. Đây là một vấn đề đáng quan tâm, bởi vì có một liên kết chặt chẽ giữa thị trường chứng khoán và nền kinh tế. Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm thừa nhận rằng việc cho phép thay đổi cấu trúc tiềm năng trong chuỗi dữ liệu kinh tế và sự phụ thuộc chéo là một vấn đề quan trọng quyết định đến kết quả của kiểm định thị trường hiệu quả, xong rất ít nghiên cứu xem xét điểm gãy cấu trúc trong dữ liệu bảng qua đó cho phép sự phụ thuộc chéo giữa các quốc gia. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là chỉ số giá chứng khoán của 32 nước phát triển là: Australia, Áo, Bỉ, Canada, Croatia, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Iceland, Ireland, Ý, Nhật Bản, Luxembourg, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Liên bang Nga, Cộng hòa Slovakia, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Ukraine, Anh và Hoa Kỳ và 26 nước đang phát triển là Argentina, Bangladesh, Botswana, Brazil, Chile, Trung Quốc, Hungary, Colombia, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Jamaica, Kenya, Ecuador, Mexico, Malaysia, Mauritius, Pakistan, Peru, Philippines, Saudi Arabia , Việt Nam, Thái Lan, Trinidad và Tobago, Thổ Nhĩ Kỳ, và Zambia.
Phương pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu áp dụng phương pháp kiểm định tính dừng dữ liệu bảng của Carrion-i-Silvestre và cộng sự năm 2005 (CBL) để kiểm định tính dừng dữ liệu bảng và dữ liệu chuỗi thời gian đơn lẻ với đa điểm gãy cấu trúc cho chỉ số chứng khoán 26 nước đang phát triển và 32 nước phát triển. Đối với kiểm định cho chuỗi dữ liệu của từng nước, giá trị ý nghĩa hữu hạn mẫu (finite sample critical value) được tính toán theo phương pháp mô phỏng Monte Carlo với 20000 lần chọn mẫu. Đối với kiểm định dữ liệu bảng, để cho phép sự phụ thuộc chéo, tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu có hoàn lại boostrap. Bố cục luận văn: Bố cục luận văn được trình bày như sau: Chương hai trình bày lý thuyết về thị trường hiệu quả, Chương 3 đưa ra kiểm định tính dừng dữ liệu bảng cho chuỗi chỉ số cổ phiếu của 32 nước phát triển và 26 nước đang phát triển bao gồm: mục 1 trình bày tổng quan về những nghiên cứu trước đây, mục 2 trình bày mô hình nghiên cứu, mục 3 trình bày kết quả thực nghiệm, mục 4 trình bày so sánh với những nghiên cứu trước đây, mục 5 trình bày thảo luận thêm về điểm gãy cấu trúc và mục 6 trình bày gợi ý chính sách.
Phần cuối cùng là kết luận. 5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ 2. Khái niệm thị trường hiệu quả: Thị trường chứng khoán được xem là hiệu quả khi thị trường đồng thời thỏa mãn các điều kiện của một thị trường hiệu quả hoàn hảo. Thị trường chứng khoán hiệu quả về mặt phân phối tức là thị trường có khả năng phân phối các nguồn vốn đầu tư được cung cấp bởi các nhà đầu tư đến tay người sử dụng tốt nhất, tạo ra lợi nhuận tốt nhất.
Thị trường chứng khoán hiệu quả về mặt chi phí giao dịch khi các tác nhân kiến tạo thị trường như các nhà môi giới, các nhà tiếp thị chứng khoán được hoạt động trong môi trường cạnh tranh nhằm tìm kiếm lợi nhuận cho mình, chi phí giao dịch bằng 0. Thị trường chứng khoán hiệu quả về mặt thông tin khi giá chứng khoán phản ánh trung thực và đầy đủ các thông tin có liên quan trên thị trường. Tuy ba mặt cấu thành này của thị trường hiệu quả có sự gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau, nhưng trong lí thuyết thị trường hiệu quả, chúng ta giả định là thị trường chứng khoán hiệu quả về mặt thông tin vì điều kiện hiệu quả về mặt thông tin là hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của toàn thị trường. Dưới góc độ nghiên cứu này, thị trường hiệu quả là thị trường trong đó giá cả của chứng khoán đã phản ánh đầy đủ tức thời tất cả thông tin hiện có trên thị trường.
Khi giả thuyết này đúng có nghĩa là giá cả chứng khoán được xác định tại mức cân bằng và phản ánh đầy đủ thông tin hiện có trên thị trường; việc giá tăng hay giảm là do và chỉ do nó phản ứng đối với các thông tin mới. Mục đích của việc nghiên cứu học thuyết EMH là để trả lời cho câu hỏi tại sao một thị trường tài chính hoạt động tốt lại loại bỏ được tình trạng lợi nhuận quá cao trong một thời gian dài. Các giả thuyết của thị trường hiệu quả: Thứ nhất thị trường hiệu quả nó đòi hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh tham gia vào thị trường với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, họ tiến hành phân tích và định giá các loại chứng khoán một cách hoàn toàn độc lập với nhau. Thứ hai những thông tin mới về chứng khoán được công bố trên thị trường một cách ngẫu nhiên và tự động, và việc quyết định về thời điểm công bố thông tin cũng độc lập lẫn nhau.
Thứ ba các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin. Mặc dù sự điều chỉnh của giá có thể là không hoàn hảo, tuy nhiên nó không hề ưu tiên cho một mặt nào. Có khi sự điều chỉnh là quá mức, cũng có khi là dưới mức cần thiết, nhưng ta không thể dự đoán được điều gì sẽ xảy ra ở mỗi thời điểm xác định. Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanh chóng là bởi số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cạnh tranh với nhau.
Thứ tư vì giá chứng khoán điều chỉnh theo tất cả những thông tin mới nên giá của những chứng khoán này sẽ phản ánh tất cả các thông tin có sẵn và được công bố rộng rãi ở mọi thời điểm. Vì thế mà nó sẽ phản ánh không thiên lệch tất cả những thông tin có sẵn hiện thời và đã bao gồm rủi ro của việc nắm giữ chứng khoán. Như vậy trong một thị trường vốn hiệu quả, khó có một nhà đầu tư nào đánh bại được thị trường và duy trì được tỉ suất sinh lợi lâu. Tỷ suất sinh lợi mong đợi trong mức giá hiện tại của chứng khoán sẽ phản ánh rủi ro tương ứng của nó, có nghĩa là các nhà đầu tư mua chứng khoán ở mức giá thông tin hiệu quả sẽ nhận được một tỷ suất sinh lợi phù hợp với rủi ro phải gánh chịu chứng khoán đó.
Đặc điểm của thị trường hiệu quả: Thị trường hiệu quả có một số đặc điểm chủ yếu sau: Mọi thông tin trên thị trường đều nhanh và chính xác, mọi nhà đầu tư đều thu nhận ngay lập tức các thông tin này. Khi thị trường hiệu quả, giá cả chứng khoán trên thị trường luôn phản ánh đúng, chính xác các thông tin trên thị trường có liên quan đến loại chứng khoán đó.