chương 1 cũng giới thiệu bố cục của luận án giúp người đọc hình dung tổng quát các nội dung chính trong các chương của đề tài.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết về mặt thực tiễn Ngân hàng (NH) là trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, đẩy mạnh quá trình lưu thông vốn trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Rose & Hudgins, 2008). Các NH được ví như là “xương sống” của nền kinh tế vì thông qua cung cấp đa dạng dịch vụ, NH thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ chủ thể thừa để chuyển giao quyền sử dụng vốn cho các chủ thể thiếu vốn, đảm bảo nguồn vốn được khai thác hiệu quả. Khi HTNH hoạt động ổn định, thực hiện tốt chức năng huy động và phân phối vốn, không xảy ra hiện tượng khủng hoảng hoặc sụp đổ hàng loạt, sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mặc dù vậy, vì tài sản của các NH phần lớn là các tài sản tài chính như giấy tờ có giá, các khoản tín dụng nên các NH phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, có thể dẫn đến thua lỗ, thậm chí phá sản (Hull, 2012).
Hiện tượng đổ vỡ một NH có thể kéo theo sự bất ổn của cả HTNH do hiện tượng lây lan, dẫn đến mất thanh khoản cả hệ thống. Bất ổn HTNH xảy ra khi có dấu hiệu kiệt quệ tài chính trong hệ thống ngân hàng hoặc/và các cơ quan quản lý phải can thiệp chính sách để đối phó với những thiệt hại đáng kể trong HTNH. Tình trạng bất ổn HTNH tác động tiêu cực đến các chủ thể có liên quan cũng như sự phát triển kinh tế QG, do đó, các QG luôn chú trọng đảm bảo ổn định HTNH. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã phải đối mặt với hàng loạt các cuộc khủng hoảng ngân hàng cho thấy sự thiếu ổn định của các HTNH trên thế giới.
Nghiên cứu của Laeve & Valencia (2018) cho thấy trong giai đoạn 1970 - 2017 hầu 2 hết các QG trên thế giới trải qua ít nhất một cuộc khủng hoảng HTNH, trong đó có nhiều QG trải qua nhiều đợt, được thể hiện qua cấp độ màu trong hình 1. Điều này cũng lý giải cho sự quan trọng của việc nghiên cứu về ổn định HTNH của các QG trên thế giới.1: Tần suất các cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới Nguồn: Laeve & Valencia (2018) Trong đó, khủng hoảng tài chính - ngân hàng ở Mỹ năm 2008 đã lan rộng sang nhiều QG trên thế giới dẫn đến tình trạng bất ổn của hàng loạt HTNH ở các QG khác, châm ngòi cho suy thoái toàn cầu giai đoạn 2008 - 2010. Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do đến từ bất định điều hành chính sách vĩ mô của Mỹ và quá trình TCH, hội nhập kinh tế giữa các quốc gia ( Carmassi và cộng sự, 2009). Cụ thể, bắt nguồn từ việc nới lỏng CSTT, duy trì chính sách lãi suất thấp; chính sách "cho vay mua nhà dưới chuẩn" kéo theo sự sụp đổ của thị trường bất động sản; sự nới lỏng quá mức các khoản tín dụng thế chấp dẫn đến các khoản nợ dưới chuẩn và rủi ro tín dụng (Bosworth & Flaaen, 2009).
Cùng với quá trình TCH và tự do kinh tế, bất ổn HTNH của Mỹ thông qua quá trình tự do kinh tế và TCH, dẫn đến bất ổn HTNH ở các QG khác. Dựa trên sự phát triển của thị trường tài 3 chính toàn cầu, các NH còn chứng khoán hóa các khoản vay để mua bán trên thị trường tài chính quốc tế. Do đó, khi bong bóng bất động sản của Mỹ gặp vấn đề, bất ổn HTNH không chỉ tại Mỹ mà còn xảy ra ở nhiều QG khác trên thế giới (Crotty, 2009). Theo Laeve & Valencia (2018), có đến 25 HTNH chịu ảnh hưởng ngay lập tức khi khủng hoảng tài chính nổ ra ở Mỹ trong năm 2008 với minh họa cụ thể ở hình 1.2: Những QG gặp ảnh hưởng ngay lập tức từ khủng hoảng kinh tế Mỹ năm 2008 Nguồn: Laeve & Valencia (2018) Thực tế từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 cho thấy mặt trái của quá trình TCH đến quá trình điều hành CSKT của các nước.
Cụ thể, TCH đã làm giảm sự độc lập của các QG trong việc ban hành CSKT do ảnh hưởng của chính sách vĩ mô của QG khác, đặc biệt là nhóm QG phát triển. Tính bất định trong quá trình điều hành CSKT từ QG này ảnh hưởng đến quá trình điều hành CSKT của QG khác, từ đó tác động đến hoạt động của các chủ thể, trong đó có NH của QG khác. Điều này đặt ra câu hỏi về tác động của môi trường toàn cầu, trong đó bao gồm việc điều hành chính sách vĩ mô của các nước trên thế giới đến ổn định HTNH của mỗi QG. 4 Vấn đề nghiên cứu về GEPU đến ổn định HTNH càng trở nên quan trọng hơn với sự xuất hiện của dịch bệnh COVID - 19 (Sharif và cộng sự, 2020; Liu, 2021).
Tình hình đại dịch đã buộc các QG phải thường xuyên đưa ra các quyết định điều hành chính sách vĩ mô phù hợp với diễn biến của dịch bệnh tại QG đó. Lệnh giãn cách, hạn chế các hoạt động xã hội gây ảnh hưởng đáng kể đến các chủ thể trong nền kinh tế. Điều này buộc chính phủ của các QG phải cân nhắc điều chỉnh các mục tiêu trong điều hành chính sách tài khóa, CSTT nhằm hỗ trợ các chủ thể cũng như đảm bảo hạn chế thiệt hại. Từ các gói cứu trợ, xem xét miễn giảm hoãn thuế, hay nới lỏng CSTT thông qua kéo giảm lãi suất được áp dụng rộng rãi ở nhiều QG.
Mục tiêu điều hành chính sách vĩ mô được thay đổi thường xuyên và liên tục trong những năm đại dịch xảy ra (Sharif, Aloui & Yarovaya, 2020; Liu, 2021). Hàng loạt các bài báo trên các trang tin tức uy tín như Wall Street Journal, BBC, CNN… đưa tin về việc NHTW các QG đang phát triển có động thái phản ứng với các quyết sách của FED hay ECB là minh chứng rõ ràng cho sự phụ thuộc của các QG đang phát triển với các nước phát triển. Do đó, nghiên cứu tác động của GEPU đến ổn định HTNH là cần thiết trong bối cảnh các QG đang đẩy mạnh TCH cũng như thường xuyên gặp những bất ổn HTNH khi gặp các cú sốc kinh tế vĩ mô. Kết quả của nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin khoa học về tác động của GEPU đến ổn định HTNH của các QG trên thế giới trong bối cảnh TCH, góp phần đề xuất hàm ý chính sách cho cơ quan quản lý, lãnh đạo ngân hàng nhằm ổn định NH nói riêng và HTNH nói chung.2 Tính cấp thiết về mặt khoa học Nghiên cứu về ổn định HTNH là chủ đề mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ổn định của HTNH QG phụ thuộc vào yếu tố bên trong và bên ngoài HTNH như nghiên cứu của Morgan (2002), Anginer và cộng sự (2018), Delis (2012), Beck và cộng sự (2013), Schaeck & Cihák (2014) v. Nghiên cứu của Morgan, (2002), Valencia (2016), Anginer và cộng sự (2018), Albaity và cộng sự (2019), Beck và cộng sự (2013), Fang và cộng sự (2014), Bermpei và cộng sự (2018) cho thấy ổn định HTNH chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố phản ánh yếu tố đặc trưng ngành và các yếu 5 tố vĩ mô QG. Đặc biệt, trong những 10 năm trở lại đây, một yếu tố bên ngoài được bổ sung, cho thấy có ảnh hưởng đến ổn định HTNH ở một số QG đó là bất định CSKT. Các nghiên cứu thực nghiệm của Phan và cộng sự (2020), Shabir và cộng sự (2021), Nguyen (2021), và Caglayan & Xu (2018) đều cho thấy EPU có ảnh hưởng đến ổn định HTNH của từng QG.
Các nghiên cứu của Phan và cộng sự (2020), Shabir và cộng sự (2021), Nguyen (2021), và Caglayan & Xu (2018) cho thấy EPU tăng lên làm giảm mức độ ổn định của HTNH. Mặc dù vậy, mức độ tác động của EPU đến ổn định HTNH mỗi QG không giống nhau mà có sự khác biệt tùy thuộc vào đặc điểm ngân hàng, cấu trúc ngành và công tác quản lý hoạt động hệ thống ngân hàng (Shabir và cộng sự, 2021; Nguyen, 2021). Đồng thời, thông qua TCH kinh tế, EPU của một QG không chỉ ảnh hưởng đến HTNH của QG đó mà còn lan truyền sang các QG khác. Điều này làm cho một số nhà nghiên cứu đặt nền móng đánh giá tác động của GEPU đến ổn định HTNH của một QG như Ashraf (2020), Botshekan et al (2021), Athari (2021), Athari, & Bahreini (2021), Ozili (2022).
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy GEPU tác động tiêu cực đến hoạt động tín dụng, khả năng tạo ra lợi nhuận cũng như gia tăng rủi ro cho HTNH ở các QG khác nhau, dẫn đến gia tăng tình trạng bất ổn định của HTNH các nước trong phạm vi nghiên cứu. Tuy nhiên, dựa trên khảo lược của tác giả, chưa có nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của GEPU đến ổn định hệ thống ngân hàng tại các QG trên thế giới. Với thực tiễn diễn ra, kết hợp với những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của EPU nói chung và GEPU nói riêng đến hoạt động HTNH, việc trả lời câu hỏi liệu GEPU có tác động đến ổn định HTNH ở các QG trên thế giới có ý nghĩa về mặt khoa học. Đồng thời, nghiên cứu cũng được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng đồng thời giữa yếu tố vĩ mô, yếu tố đặc trưng ngành ngân hàng và GEPU đến ổn định HTNH, từ đó, hiểu rõ hơn vai trò của hai yếu tố này đến ổn định HTNH của mỗi QG trong bối cảnh GEPU.
Bên cạnh đó, quá trình TCH kinh tế làm giảm sự độc lập trong việc ban hành CSKT của chính phủ (Lodhi, 2021; Acocella, N. Nói cách khác, TCH kinh tế làm cho việc điều hành chính sách vĩ mô của các QG có tác động qua lại lẫn nhau. Nghiên cứu của Lodhi (2021) cho thấy TCH 6 ảnh hưởng đến tất cả các QG nhưng kết quả tác động của TCH kinh tế đến mỗi QG là khác nhau tùy thuộc vào vị trí của họ trong cơ cấu quyền lực quốc tế và chi phí điều chỉnh trong nước. Prasad và cộng sự (2003) cho thấy bên cạnh những lợi ích, TCH tài chính được cho là tác nhân dẫn tới khủng hoảng tài chính gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và xã hội ở những nước đang phát triển.
Lane (2013) cho thấy TCH tài chính là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng.