CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NHÀ BÁO TRONG CÁC ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH 1. Nhân lực Vấn đề nhân lực luôn thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới. Những năm vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nhân lực và đã đưa ra những khái niệm khác nhau. Trong đó, định nghĩa nhân lực cần được hiểu theo nghĩa sau: Nhân lực của mỗi cá nhân, nhân lực của một tập thể, một xã hội.
- Một số công trình nghiên cứu đã đưa ra khái niệm nhân lực của mỗi cá nhân như sau: Trong Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KX-05-1 (2004), các tác giả đã phân tích những vấn đề liên quan đến nhân lực, trong đó khẳng định: “Nhân lực là tổng hợp các phẩm chất, năng lực và sức khỏe của người lao động được huy động vào một hoạt động xã hội nào đó, nhằm đáp ứng yêu cầu của công việc”. Không có nhân lực đứng ngoài hoặc tách rời người lao động. Khi nói đến người lao động là luôn gắn với hệ thống phẩm chất, năng lực, sức khỏe để có thể đáp ứng được yêu cầu công việc nào đó. Thực tế cho thấy, nếu đánh giá mức độ phẩm chất, sức khỏe của người lao động một cách chính xác thì sẽ đánh giá chính xác được chất lượng hiệu quả trong quá trình hoạt động của lao động.
Định nghĩa này cũng nhấn mạnh người lao động cần phải có cả ba yếu tố chính là phẩm chất, năng lực và sức khỏe nếu người lao động chỉ có một trong ba yếu tố chính không tốt thì sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của người lao động [12]. Trần Xuân Cầu (2012) đã đưa ra định nghĩa về nhân lực như sau: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của có thể con người và đến mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động” [11]. Định nghĩa này đã chỉ rõ được những thành tố chính của nhân lực được con người thể hiện ra trong quá trình hoạt động của mình.
Một định nghĩa tương tự về nhân lực cũng đã được đưa ra trong một giáo trình Quản trị nhân lực (Lê Thanh Hà, 2009), theo đó “Nhân lực là nguồn lực trong mỗi con người. Nó bao gồm cả thể lực và trí lực. Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nó bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng, kinh nghiệm), tâm lý, 16 ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng đam mê”.
Nguồn lực trong mỗi con người có thể nói là không có giới hạn. Một minh chứng cho sự không giới hạn đó là nhân tố sức khỏe, thể lực của con người tưởng chừng là giới hạn nhưng trong tình huống nhất định nào đó có thể vược xa giới hạn đã có. Sức khỏe của con người bị ảnh hưởng, được điều khiển bởi tâm lý, ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài. Trong những nhân tố thể hiện nguồn lực của con người thì sức sáng tạo có thể được xem là tiềm năng nhất, sức sáng tạo của con người phụ thuộc vào điều kiện, môi trường sống, làm việc của từng con người, từng công việc cụ thể.
Như vậy, khẳng định nhân lực là nguồn lực trong mỗi con người, trong đó có cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng [34]. Đi sâu phân tích nội hàm của khái niệm nhân lực, Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2010) định nghĩa: “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” và chỉ rõ, thể lực chỉ sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, cũng như phụ thuộc vào tuổi tác của từng cá nhân; trong khi đó, trí lực là nói lên những suy nghĩ, hiểu biết, tài năng, năng khiếu, kiến thức, nhân cách, lòng tin của từng cá nhân [31]. - Khái niệm nhân lực của một tập thể, một xã hội được hiểu là: Tập hợp các cá nhân, bao gồm toàn bộ số người được huy động để tham gia vào nền sản xuất kinh tế xã hội, tương ứng với tổng số lao động của một tập thể, của cả một địa phương hay của cả một đất nước. Trong giới hạn của Luận án, khái niệm nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người và nguồn lực bao gồm thể lực và trí lực.
Nhân lực trong tổ chức Khái niệm “tổ chức” trong Luận án được hiểu là phạm vi cơ quan (đơn vị), ngành, địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, xã), quốc gia. Trong Luận án, tác giả đi sâu vào nghiên cứu nhân lực trong phạm vi tổ chức là cơ quan (đơn vị). Nhân lực trong một tổ chức là toàn bộ số người đang làm việc trong tổ chức. Lực lượng lao động này đặc trưng bởi quy mô, cơ cấu và chất lượng của những con người cụ thể, năng lực tham gia vào quá trình hoạt động của tổ chức.
Nhân lực trong tổ chức được phản ánh qua các đặc trưng: - Quy mô nhân lực chính là số lượng nhân lực tham gia vào hoạt động của tổ chức tại một thời điểm nhất định và nó phản ánh mức độ sử dụng lao động của tổ 17 chức đó ở mỗi bộ phận. Việc thay đổi nhân lực về số lượng còn phụ thuộc vào kế hoạch phát triển, chiến lược phát triển và quy mô của tổ chức đó trong từng giai đoạn cụ thể. - Cơ cấu nhân lực được đánh giá theo trình độ chuyên môn, theo tuổi tác, theo chức danh nghề nghiệp, theo giới tính. Cơ cấu nhân lực thường được thay đổi theo yêu cầu phát triển của tổ chức để phù hợp với nhu cầu công việc ở từng bộ phận trong tổng thể nhân lực.
- Chất lượng nhân lực phản ánh khả năng tham gia của người lao động trong tổ chức. Chỉ tiêu phản ánh của chất lượng nhân lực thể hiện qua các yếu tố sau: + Sức khỏe + Kiến thức + Kỹ năng + Phẩm chất bao gồm: đạo đức, thái độ, ý thức kỷ luật, tác phong làm việc, khả năng sáng tạo, thích ứng, mức độ sẵn sàng làm việc. Đối với lao động trong tổ chức, chất lượng làm việc của lao động được thể hiện ra bên ngoài qua vị trí việc làm và hiệu quả thực hiện công việc đó. Có 3 yếu tố quan trọng và quyết định chất lượng nhân lực gồm kiến thức (kiến thức văn hóa, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ…), kỹ năng và phẩm chất làm việc.
Nhìn chung, nhân lực luôn bị nhiều yếu tố tác động trực tiếp, trong đó có một số yếu tố cơ bản như số lượng dân số, chỉ số phát triển kinh tế, môi trường xã hội. Những yếu tố tác động đến chất lượng và hiệu quả sử dụng nhân lực gồm: sự phát triển kinh tế - xã hội; chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe; chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân. Ngoài ra, nhân lực trong một tổ chức còn chịu tác động của khoa học – công nghệ, trình độ, cơ cấu tổ chức, cơ cấu quản lý và sử dụng làm việc, môi trường trong tổ chức, sự tác động của thị trường lao động đến chuyển dịch lao động. Nhân lực nhà báo 1.
Nhà báo Theo cuốn sách Lao động nhà báo - lý thuyết và kỹ năng cơ bản của Lê Thị Nhã (2010), đã đưa ra khái niệm: “Nhà báo là những người hoạt động nghiệp vụ có tính chất thường xuyên, chuyên nghiệp trong cơ quan báo chí”. Nội dung khái niệm đã xác định: chỉ những người hoạt động về nghiệp vụ báo chí trong các loại hình báo chí và phải có thời gian hoạt động có tính liên tục ở một cơ quan báo chí nhất định; được quản lý và chi phối bởi tôn chỉ, mục đích của tờ báo nơi nhà báo công tác [43]. 18 Theo từ điển Collins Essential English Dictionary thì: “Nhà báo là người tham gia vào hoạt động báo chí, đặc biệt là người viết hoặc biên tập của một loại hình báo chí; là người quản lý tờ báo, tạp chí.; là người làm nghề viết báo, thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về các sự kiện, các khuynh hướng, các vấn đề hiện tại. Hoặc nhà báo là người viết hoặc biên tập tin tức cho một tờ báo hoặc tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình; là người làm việc trong lĩnh vực báo chí” [63].
Trong định nghĩa này, khái niệm nhà báo được xác định ở phạm vi rộng bao gồm tất cả những người có liên quan đến hoạt động báo chí, không phân biệt những người tham gia thời vụ và dài hạn; không phân biệt các thành phần tham gia vào hoạt động báo chí. Với định nghĩa này, việc quản lý nhà báo sẽ khó khăn đặc biệt đối với nền báo chí cách mạng Việt Nam. Nguyễn Văn Dững (2012) đã đưa ra khái niệm “Nhà báo là người tham gia một trong các loại hình lao động báo chí của quá trình thu thập, xử lý và chuyển tải thông tin cho công chúng xã hội; đó là lao động tổ chức quản lý (bao gồm tổ chức quản lý vĩ mô và vi mô), lao động biên tập, lao động tác giả, lao động kỹ thuật - dịch vụ báo chí truyền thông. Nhà báo là chủ thể hoạt động báo chí, chịu trách nhiệm trước pháp luật và dư luận xã hội về những thông tin mà họ cung cấp, trên cả hai bình diện: pháp lý và đạo đức” [29].
Trong định nghĩa này, phạm vi nhà báo được hiểu rộng hơn bao gồm tất cả các khâu liên quan từ khi bắt đầu quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí đến khi cung cấp thông tin đến công chúng, tức là bao gồm cả những người làm kỹ thuật, kinh doanh dịch vụ sản phẩm báo chí. Trong đó nhấn mạnh, nhà báo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và đạo đức lương tâm, nghề nghiệp đối với tác phẩm báo chí của chính bản thân họ. Sản phẩm báo chí là sản phẩm tập thể, bắt đầu từ khâu lên ý tưởng, sáng tác, viết bài, biên tập cho đến khi hoàn thành sản phẩm gồm nhiều người tham gia ở các công đoạn khác nhau. Trong số những người tham gia vào dây chuyền đó, có những người không tham gia trực tiếp mà chỉ thông tin hoặc gửi bài đến cơ quan báo chí để đăng bài phát sóng, những người này thường được gọi là “Cộng tác viên”, “Thông tin viên”.