Luận án Tiến sĩ Luật học: Pháp luật về doanh nghiệp cung ứng HH, DVC - Thực trạng & giải pháp

Luận án tiến sĩ luật học phân tích sâu sắc pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ công. Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

2013

161
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ công

Hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội mọi quốc gia. Ở Việt Nam, lĩnh vực này đóng vai trò điều kiện ổn định chính trị, phát triển bền vững và đảm bảo cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng của các chủ thể, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Hệ thống pháp luật này quy định về điều kiện kinh doanh, trách nhiệm tài sản, cơ chế giám sát và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đặc điểm nổi bật của pháp luật trong lĩnh vực này là tính công ích, yêu cầu cân bằng giữa lợi nhuận kinh doanh và phục vụ cộng đồng. Các mô hình cung ứng trên thế giới cho thấy xu hướng xã hội hóa, giảm dần sự độc quyền của nhà nước, tăng cường vai trò của khu vực tư nhân trong cung ứng hàng hoá, dịch vụ công.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ công

Doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công là tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu phục vụ lợi ích chung của xã hội. Pháp luật về lĩnh vực này có những đặc điểm riêng biệt so với pháp luật kinh doanh thông thường. Tính công ích là yếu tố cốt lõi, yêu cầu doanh nghiệp đặt mục tiêu phục vụ cộng đồng song song với hiệu quả kinh doanh. Pháp luật quy định chặt chẽ về điều kiện thành lập, tiêu chuẩn chất lượng và cơ chế giá cả. Doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công phải chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hệ thống pháp luật cũng quy định rõ trách nhiệm tài sản, bao gồm chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn và vô hạn tùy theo loại hình doanh nghiệp.

1.2. Các mô hình cung ứng hàng hoá dịch vụ công trên thế giới

Trên thế giới tồn tại nhiều mô hình cung ứng hàng hoá, dịch vụ công đa dạng. Mô hình nhà nước độc quyền truyền thống đặt toàn bộ hoạt động cung ứng dưới sự quản lý trực tiếp của chính phủ. Mô hình xã hội hóa khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân, áp dụng nguyên tắc nhà nước chỉ làm những gì tư nhân không làm được. Mô hình đối tác công - tư kết hợp nguồn lực giữa nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Mỗi mô hình có ưu nhược điểm riêng, đòi hỏi pháp luật phải thích ứng phù hợp. Việt Nam đang chuyển đổi từ mô hình nhà nước bao cấp sang xã hội hóa, tham khảo kinh nghiệm các nước phát triển như Anh, Pháp, Nhật Bản để hoàn thiện hệ thống pháp luật.

II. Phân tích thực trạng pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ công

Pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn. Hệ thống pháp luật hiện hành bao gồm Luật Doanh nghiệp, các luật chuyên ngành và văn bản dưới luật điều chỉnh hoạt động cung ứng. Thực trạng cho thấy pháp luật đã đạt được một số kết quả tích cực trong việc tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật vẫn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện. Cơ chế giám sát chưa đồng bộ, thiếu hiệu quả trong việc kiểm soát chất lượng hàng hoá, dịch vụ công. Pháp luật chưa quy định đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, đặc biệt trong lĩnh vực cung ứng có tính chất công ích cao. Việc áp dụng mô hình trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp cũng cần được rà soát, hoàn thiện.

2.1. Sự hình thành và phát triển pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ công

Quá trình hình thành pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn trước đổi mới, nhà nước giữ vai trò độc quyền trong cung ứng thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Sau đổi mới, hệ thống pháp luật dần mở cửa cho sự tham gia của khu vực tư nhân. Luật Doanh nghiệp các năm 1999, 2005, 2014 đánh dấu những bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý. Các luật chuyên ngành về điện lực, nước sạch, giao thông vận tải cũng được ban hành nhằm điều chỉnh cụ thể hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công. Tuy nhiên, quá trình phát triển pháp luật còn mang tính chất manh mún, thiếu tính hệ thống.

2.2. Đánh giá ưu điểm và hạn chế của pháp luật hiện hành

Pháp luật hiện hành về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công có nhiều ưu điểm đáng ghi nhận. Hệ thống đã tạo lập khung pháp lý cơ bản cho hoạt động cung ứng, quy định rõ các loại hình doanh nghiệp và chế độ trách nhiệm tài sản. Nguyên tắc xã hội hóa được ghi nhận, mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân tham gia. Tuy nhiên, hạn chế còn tồn tại ở nhiều mặt. Văn bản pháp luật chồng chéo, thiếu thống nhất gây khó khăn trong thực thi. Cơ chế giá cả, trợ cấp chưa minh bạch. Quy định về giám sát chất lượng còn lỏng lẻo. Pháp luật chưa bảo vệ đầy đủ quyền lợi người sử dụng dịch vụ công. Các quy định về đấu thầu, lựa chọn nhà cung cấp còn nhiều kẽ hở.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ công

Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công đòi hỏi tiếp cận đồng bộ trên nhiều phương diện. Phương hướng chung là xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam. Cần tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa, tạo cơ chế bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong cung ứng hàng hoá, dịch vụ công. Giải pháp cụ thể bao gồm rà soát, hệ thống hóa toàn bộ văn bản pháp luật liên quan, loại bỏ sự chồng chéo. Hoàn thiện quy định về điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn chất lượng và cơ chế giám sát. Xây dựng hệ thống chế tài xử lý vi phạm đủ mạnh, đảm bảo tính răn đe. Nâng cao vai trò của người dân trong giám sát chất lượng dịch vụ công. Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền lợi các bên tham gia hoạt động cung ứng.

3.1. Phương hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ công

Phương hướng xây dựng pháp luật cần bám sát nguyên tắc nhà nước chỉ làm những gì tư nhân không làm, không làm được, không được phép làm. Tiếp tục mở rộng phạm vi xã hội hóa, giảm dần sự độc quyền trong cung ứng hàng hoá, dịch vụ công. Xây dựng cơ chế cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp cung ứng. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho hàng hoá, dịch vụ công. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát hoạt động cung ứng. Tăng cường hợp tác quốc tế, tiếp thu kinh nghiệm các nước phát triển trong quản lý dịch vụ công. Xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả định kỳ để kịp thời điều chỉnh chính sách pháp luật.

3.2. Giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ công

Giải pháp cụ thể thứ nhất là ban hành Luật về cung ứng hàng hoá, dịch vụ công thống nhất, thay thế các quy định phân tán hiện nay. Luật cần quy định rõ khái niệm, phân loại hàng hoá, dịch vụ công, điều kiện kinh doanh và trách nhiệm các bên. Giải pháp thứ hai là hoàn thiện cơ chế giám sát đa tầng, bao gồm giám sát nhà nước, giám sát cộng đồng và tự giám sát của doanh nghiệp. Giải pháp thứ ba là xây dựng hệ thống chế tài xử lý vi phạm nghiêm minh, đủ sức răn đe. Giải pháp thứ tư là đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về pháp luật dịch vụ công. Cuối cùng, cần xây dựng cơ chế phản hồi, tiếp thu ý kiến người dân để不断完善 hệ thống pháp luật.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng thực tiễn của đề xuất hoàn thiện pháp luật

Luận án đã nghiên cứu toàn diện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công, từ cơ sở lý luận đến thực trạng và giải pháp hoàn thiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống pháp luật Việt Nam đã có bước tiến đáng kể nhưng vẫn cần tiếp tục cải thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đất nước. Hướng ứng dụng thực tiễn bao gồm việc áp dụng các đề xuất vào quá trình xây dựng, sửa đổi luật và các văn bản dưới luật. Doanh nghiệp có thể tham khảo để nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật. Cơ quan quản lý nhà nước có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để hoàn thiện cơ chế giám sát. Ý nghĩa học thuật của luận án nằm ở việc hệ thống hóa lý luận và đề xuất khung pháp lý hoàn chỉnh cho lĩnh vực cung ứng hàng hoá, dịch vụ công tại Việt Nam.

4.1. Ý nghĩa lý luận của kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đóng góp vào kho tàng lý luận pháp luật về kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực cung ứng hàng hoá, dịch vụ công. Luận án đã hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công một cách có hệ thống. Phân tích các mô hình cung ứng trên thế giới giúp mở rộng hiểu biết về cách thức tổ chức hoạt động dịch vụ công. Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam cung cấp cơ sở khoa học cho việc nhận diện ưu điểm, hạn chế. Các giải pháp đề xuất được xây dựng trên nền tảng lý thuyết vững chắc, kết hợp kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo quý giá cho hoạt động giảng dạy, học tập chuyên ngành luật kinh tế.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và triển vọng phát triển

Các đề xuất của luận án có tính ứng dụng thực tiễn cao trong nhiều lĩnh vực. Cơ quan lập pháp có thể sử dụng kết quả nghiên cứu làm cơ sở xây dựng Luật về cung ứng hàng hoá, dịch vụ công thống nhất. Bộ, ngành liên quan có thể tham khảo để hoàn thiện các thông tư, nghị định chuyên ngành. Doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công áp dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động và tuân thủ pháp luật. Triển vọng phát triển bao gồm việc tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về từng lĩnh vực dịch vụ công cụ thể như điện lực, nước sạch, giao thông. Cần theo dõi tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công để kịp thời điều chỉnh pháp luật.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ công thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Những năm cuối thế kỷ XX, các quốc gia phát triển theo con đường Tư bản chủ nghĩa đạt được những thành quả vượt bậc. Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến DN cung ứng HH, DVC trên thế giới từ lâu đã được quan tâm trong lịch sử phát triển xã hội. Nó trở thành vấn đề được tranh luận sôi nổi khi nhu cầu phát triển quyền con người, nền dân chủ được đề cao gắn với mối quan hệ giữa nhà nước và công dân.

Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật; đề cao vai trò của pháp luật, tăng cường chức năng "phục vụ nhân dân", lấy tiêu chí "phục vụ" để đánh giá sứ mệnh của Nhà nước trước nhân dân. Cùng với xu hướng phát triển này, trên thế giới đã ra đời nhiều tác phẩm, công trình khoa học nghiên cứu nhu cầu thụ hưởng và cung ứng HH, DVC trong xã hội. Những công trình đó góp phần quan trọng vào sự đổi mới và phát triển nhận thức của thế giới về vai trò của Nhà nước trong phát triển xã hội, đặc biệt các vấn đề nâng cao nhận thức, đánh giá và tìm hướng đi cho sự phát triển cung ứng HH, DVC cho xã hội với quan điểm lấy con người làm trung tâm và là động lực của sự phát triển trên phạm vi toàn cầu. Ở Việt Nam, lần đầu tiên thuật ngữ "cung cấp DVC" [31, tr.133] được đề cập đến trong Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX: ".

tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp. Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số DVC với sự giám sát của cộng đồng như vệ sinh môi trường, tham gia giữ gìn trật tự trị an xóm, phường" [31, tr. Trên cơ sở chủ trương này, trong những năm gần đây, thuật ngữ HH, DVC và hoạt động cung ứng được đặt ra, nghiên cứu, tranh luận sôi nổi, có giai đoạn trở thành vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội. - Kết quả của sự quan tâm, nghiên cứu đó được thể hiện qua nhiều hoạt động khoa học: tổ chức hội thảo, giảng dạy, xây dựng đề tài khoa học, viết giáo trình, sách, báo, tạp chí.

ở nhiều không gian, thời gian khác nhau và đưa ra một số vấn đề chủ 12 yếu liên quan đến khái niệm, chủ thể, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ, về xã hội hoá hoạt động cung ứng HH, DVC. Ở mức độ khác nhau, mỗi công trình khoa học trong lĩnh vực này phản ánh một khía cạnh khác nhau về cung ứng HH, DVC, như: - Quan niệm về HH, DVC; - Vấn đề cung ứng HH, DVC trong nền kinh tế tập trung, bao cấp; - Về vai trò của nhà nước và các chủ thể trong cung ứng HH, DVC; - Trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của chủ thể cung ứng HH, DVC - Các mô hình cung ứng HH, DVC trên thế giới; - Xã hội hóa cung ứng HH, DVC; - Về phương thức cung ứng HH, DVC điển hình, thể hiện xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới; - Về tăng cường kiểm tra giám sát, áp dụng các biện pháp đảm bảo trong cung ứng HH, DVC. Quan niệm về hàng hoá, dịch vụ công Một số tác phẩm tiêu biểu trên thế giới bàn về thuật ngữ HH, DVC như: - Theo "World book encyclopeadia - 1998", HH, DVC là việc Chính phủ bảo vệ lợi ích công cộng bằng việc cung ứng các hàng hoá (HH) và dịch vụ (DV) gọi chung là HH, DVC. Ai cũng có lợi từ HH, DVC được cung ứng, và một số chủ thể không phải trả tiền cho các loại HH, DV đó.

Nếu tham gia vào lĩnh vực này, các công ty (thuộc các thành phần kinh tế khác nhau) khó có thể tìm lợi nhuận (khi SX và cung ứng HH, DVC). Đây cũng là một lý do cơ bản mà HH, DVC thường được bảo vệ, duy trì và cung ứng bởi chính Nhà nước [43, tr. - "Khu vực công" là môi trường chủ yếu thực hiện hoạt động cung ứng HH, DVC cũng được nhiều tác giả nghiên cứu. Theo "Public Administration", khu vực công là thuật ngữ được sử dụng từ khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1945, một phần do sự mở rộng hoạt động của chính phủ, một phần khác, nó gắn liền với các hành vi xã hội cùng với hoạt động kinh tế - xã hội.

Nó là định hướng để phân biệt nền kinh tế tự do gắn với lợi ích cá nhân, với DN tư nhân. Khu vực công đại diện và gắn với quyền lực nhà nước; thông qua đó có thể điều chỉnh hoạt động của các chủ 13 thể và tạo ra niềm tin chính trị phù hợp, xem hoạt động của tập thể hơn là cá nhân. Như vậy, khu vực công là một thuật ngữ dùng để phân biệt với thực thể kinh tế đã và đang tồn tại là khu vực tư. Sự khác nhau cơ bản không chỉ là mục tiêu của hoạt động (vì tập thể) và cũng khác nhau cả về cung cách tổ chức và quản lý các hoạt động [109].

- Tác phẩm "Kinh tế học công cộng", đã nghiên cứu về HH, DV nói chung, trong đó có hàng hoá, dịch vụ công cộng (HH, DVCC), tác giả Joseph E.Stiglitz cho rằng: "HH, DVCC thuần tuý là loại hàng hoá, dịch vụ (HH, DV) có hai đặc tính quan trọng: thứ nhất, nó không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng; thứ hai, người ta không muốn sử dụng nó theo khẩu phần" [54, tr. Có thể nói, đây là dấu hiệu rất cơ bản của HH, DVC thuần tuý. Chúng có vai trò quan trọng liên quan mật thiết đến sự sống, sinh hoạt an toàn, ổn định và bình thường của con người như: HH, DV phục vụ vệ sinh môi trường, chiếu sáng đô thị, đắp đê phòng chống bão lụt. Từ các quan niệm trên đây, có thể rút ra rằng: HH, DVC là những sản phẩm phục vụ xã hội có các đặc tính như: - Thường không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng; - Người ta thường không muốn sử dụng nó theo khẩu phần; - Khó có thể tìm lợi nhuận khi SX, cung ứng; - Cung ứng và thụ hưởng cũng phải trong khuôn khổ pháp luật; - Được bảo vệ, duy trì, đảm bảo cung ứng bởi Nhà nước.

Ở Việt Nam, nhiều công trình, tài liệu. đã công bố khi bàn về các nội dung khác nhau về HH, DVC có đề cập đến quan niệm về HH, DVC làm cơ sở cho việc nghiên cứu: - Tác phầm "Cải cách DVC ở Việt Nam", nhà xuất bản (Nxb) Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2003, PGS. Lê Chi Mai bàn luận và đưa ra khái niệm DVC; theo đó: DVC là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay uỷ nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xã hội [61, tr. Theo cách quan niệm này, DVC có một số đặc điểm như: Thứ nhất, đó là những hoạt động phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân.

14 Thứ hai, những hoạt động này do các cơ quan công quyền hay những chủ thể được chính quyền uỷ nhiệm đứng ra thực hiện. Thứ ba, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các DV này cho xã hội. Ngay cả khi nhà nước chuyển giao DV này cho tư nhân cung ứng thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong phân phối các DV này, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường. Thứ tư, việc cung ứng DVC nhằm đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân.

Thứ năm, khi thực hiện cung ứng các DVC, các cơ quan nhà nước và các tổ chức được uỷ nhiệm cung ứng có sự giao dịch cụ thể với khách hàng - các tổ chức và công dân. Thứ sáu, việc Nhà nước cung ứng DVC thường không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Thông thường, người sử dụng DVC không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước. Cũng có những DV mà người sử dụng phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm cung ứng các DV này không nhằm vào mục tiêu lợi nhuận [61, tr.

Tuy nhiên, ở cách tiếp cận trên, cần lưu ý, đặc điểm Thứ tư cho rằng: "việc cung ứng DVC nhằm đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân" mới chỉ phản ánh một khía cạnh của mục đích, chức năng cung ứng DVC; trong khi đó về bản chất, mục đích của cung ứng DVC là để duy trì trật tự công, đảm bảo sự phát triển bình thường, ổn định, tiến bộ. của đời sống kinh tế - xã hội mà không bị hạn chế bởi "nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp" của cộng đồng. Thực tế đã chứng minh có những loại DVC không thể hiện qua giao dịch để thực hiện "nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp" của người dân nhưng nó vẫn luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống xã hội. Việc thực hiện cung ứng các DVC "có sự giao dịch cụ thể với khách hàng - các tổ chức và công dân".

Trong khi đó, đời sống xã hội có những loại DVC điển hình, quan trọng, như: DV về quốc phòng, an ninh, chiếu sáng đô thị. dù không có giao dịch cụ thể nhưng mặc nhiên mọi người dân ở bất kỳ nơi đâu trên lãnh thổ quốc gia mà người đó mang quốc tịch, sinh sống đều được hưởng kết quả của loại hoạt động này. 15 - Tác phẩm "Thuật ngữ hành chính", Viện nghiên cứu Khoa học Hành chính, Học viện Hành chính, TS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ