Luận án: Quản lý nhà nước về đa dạng hóa tín dụng ngân hàng TP.HCM đến 2020

Nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế về quản lý nhà nước, tập trung phân tích đa dạng hóa hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2013

306
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đa dạng hóa hoạt động tín dụng ngân hàng

Đa dạng hóa hoạt động tín dụng là quá trình các ngân hàng thương mại cổ phần mở rộng và phát triển các sản phẩm, dịch vụ tín dụng beyond truyền thống. Mục tiêu nhằm giảm thiểu rủi ro tập trung, tăng khả năng sinh lời và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Tại thành phố Hồ Chí Minh, quá trình này diễn ra mạnh mẽ từ năm 2006. Các ngân hàng thương mại cổ phần đã không ngừng đổi mới phương thức cho vay, phát triển các sản phẩm tín dụng mới. Quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, giám sát và tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đa dạng hóa. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chức năng quản lý trực tiếp đối với hoạt động tín dụng trên địa bàn. Công tác quản lý bao gồm việc ban hành quy định, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Đa dạng hóa tín dụng giúp ngân hàng tiếp cận nhiều phân khúc khách hàng hơn. Hoạt động này cũng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, quá trình đa dạng hóa cần đi đôi với kiểm soát rủi ro hiệu quả.

1.1. Khái niệm đa dạng hóa hoạt động tín dụng ngân hàng

Đa dạng hóa hoạt động tín dụng ngân hàng được hiểu là việc mở rộng, phát triển các loại hình sản phẩm tín dụng, phương thức cho vay và đối tượng khách hàng. Ngân hàng thương mại cổ phần thực hiện đa dạng hóa theo nhiều chiều: đa dạng về sản phẩm tín dụng, đa dạng về phương thức cho vay, đa dạng về đối tượng phục vụ và đa dạng về thời hạn cho vay. Các sản phẩm tín dụng bao gồm cho vay, chiết khấu thương phiếu, bảo lãnh ngân hàng, phát hành thẻ tín dụng và bao thanh toán. Phương thức cho vay gồm cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay hợp vốn và cho vay trả góp.

1.2. Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng

Quản lý nhà nước về tín dụng ngân hàng là sự tác động có tổ chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm định hướng, điều chỉnh hoạt động tín dụng theo mục tiêu phát triển kinh tế. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đóng vai trò trung tâm trong quản lý nhà nước về tín dụng. Cơ quan này thực hiện quản lý thông qua công cụ chính sách tiền tệ, quy định an toàn hoạt động và giám sát tuân thủ. Tại địa phương, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh thực hiện quản lý trực tiếp. Công cụ quản lý bao gồm quy định về tỷ lệ an toàn, hạn mức tín dụng và lãi suất.

II. Phân tích thực trạng đa dạng hóa tín dụng tại TP

Thực trạng đa dạng hóa hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2012 cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tồn tại hạn chế. Về sản phẩm tín dụng, các ngân hàng đã phát triển đa dạng các loại hình từ cho vay ngắn hạn, trung hạn đến dài hạn. Các phương thức cho vay mới như cho vay theo hạn mức, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp được triển khai rộng rãi. Tuy nhiên, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn còn thấp so với cho vay ngắn hạn. Các sản phẩm tín dụng phi truyền thống như bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng chưa phát triển tương xứng tiềm năng. Công tác quản lý nhà nước còn bất cập trong việc theo dõi, đánh giá mức độ đa dạng hóa. Hệ thống thông tin giám sát chưa đồng bộ, thiếu cơ sở dữ liệu tập trung. Một số quy định pháp lý chưa theo kịp thực tiễn phát triển sản phẩm mới. Hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa tập trung đánh giá rủi ro từ đa dạng hóa tín dụng.

2.1. Kết quả đạt được trong đa dạng hóa hoạt động tín dụng

Giai đoạn 2006-2012, các ngân hàng thương mại cổ phần tại thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả trong đa dạng hóa tín dụng. Số lượng sản phẩm tín dụng tăng đáng kể, từ các hình thức cho vay truyền thống mở rộng sang cho vay tiêu dùng, cho vay bất động sản, cho vay nông nghiệp. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng và cho vay theo hạn mức thấu chi được triển khai. Các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá được phát triển. Thị phần tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần tăng trưởng ổn định.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về đa dạng hóa tín dụng tại thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều hạn chế. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đầy đủ, thiếu tính hệ thống. Công tác thanh tra, giám sát chưa tập trung đánh giá rủi ro từ đa dạng hóa sản phẩm tín dụng. Năng lực cán bộ quản lý còn hạn chế trong việc theo dõi các sản phẩm tín dụng mới. Nguyên nhân chính bao gồm: thiếu cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, hệ thống thông tin chưa đồng bộ và thiếu quy định cụ thể về quản lý rủi ro sản phẩm mới.

III. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đa dạng hóa tín dụng

Để hoàn thiện quản lý nhà nước về đa dạng hóa hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tín dụng ngân hàng. Các quy định cần bao quát đầy đủ các sản phẩm tín dụng mới, tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho hoạt động đa dạng hóa. Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, giám sát. Cần xây dựng hệ thống cảnh báo rủi ro sớm, tập trung đánh giá rủi ro từ đa dạng hóa sản phẩm tín dụng. Thứ ba, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực quản lý. Cán bộ quản lý cần được trang bị kiến thức về sản phẩm tín dụng mới và kỹ năng phân tích rủi ro. Thứ tư, hiện đại hóa hệ thống thông tin giám sát. Xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, kết nối liên thông giữa các cơ quan quản lý. Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý ngân hàng. Học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.

3.1. Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động tín dụng đa dạng

Hoàn thiện khung pháp lý là giải pháp nền tảng để quản lý nhà nước hiệu quả hoạt động đa dạng hóa tín dụng. Cần sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng theo hướng tạo điều kiện cho đa dạng hóa sản phẩm tín dụng. Ban hành quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn phát triển sản phẩm tín dụng mới. Xây dựng quy định về quản lý rủi ro đối với từng loại sản phẩm tín dụng. Đồng thời, cần ban hành quy định về công khai, minh bạch thông tin sản phẩm tín dụng để bảo vệ quyền lợi khách hàng.

3.2. Nâng cao năng lực giám sát và thanh tra ngân hàng

Nâng cao năng lực giám sát và thanh tra là giải pháp quan trọng đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. Cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát phù hợp với đặc điểm đa dạng hóa tín dụng. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát từ xa, phân tích dữ liệu và cảnh báo rủi ro. Tăng cường đào tạo cán bộ thanh tra về sản phẩm tín dụng mới và kỹ năng đánh giá rủi ro. Xây dựng quy trình thanh tra chuyên đề về đa dạng hóa tín dụng. Tăng cường phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước chi nhánh với các cơ quan quản lý trên địa bàn.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng đến năm 2020

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đa dạng hóa hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần. Nghiên cứu phân tích thực trạng đa dạng hóa tín dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2012. Kết quả cho thấy quá trình đa dạng hóa đã đạt được nhiều thành tựu nhưng quản lý nhà nước còn nhiều bất cập. Hệ thống giải pháp đề xuất mang tính toàn diện, bao gồm hoàn thiện pháp lý, nâng cao giám sát và hiện đại hóa công nghệ quản lý. Định hướng đến năm 2020, hoạt động tín dụng ngân hàng ngày càng đa dạng với nhiều sản phẩm mới. Quản lý nhà nước cần thích ứng nhanh với sự phát triển của thị trường. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh cần tăng cường vai trò quản lý trực tiếp. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý trên địa bàn cần được tăng cường. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giám sát là yêu cầu cấp thiết. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tín dụng ngân hàng.

4.1. Kết quả nghiên cứu chính của luận án

Luận án đạt được ba kết quả nghiên cứu chính. Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đa dạng hóa tín dụng ngân hàng thương mại cổ phần. Thứ hai, đánh giá toàn diện thực trạng đa dạng hóa tín dụng và quản lý nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2012. Thứ ba, đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đến năm 2020. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao giám sát, đào tạo nhân lực và ứng dụng công nghệ.

4.2. Định hướng phát triển tín dụng đa dạng đến năm 2020

Định hướng phát triển tín dụng đa dạng đến năm 2020 tập trung vào ba nội dung chính. Thứ nhất, phát triển sản phẩm tín dụng mới phù hợp với hội nhập quốc tế và nhu cầu thị trường. Thứ hai, nâng cao năng lực quản lý rủi ro trong bối cảnh đa dạng hóa sản phẩm tín dụng. Thứ ba, xây dựng hệ thống giám sát hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Các ngân hàng thương mại cổ phần cần xây dựng chiến lược đa dạng hóa tín dụng bền vững, gắn với quản trị rủi ro hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế quản lý nhà nước về đa dạng hóa hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố hồ chí minh đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Hoạt động tín dụng (HĐTD) ngân hàng góp phần quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo qua cung cấp vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư, tăng trưởng kinh tế, góp phần tạo việc làm, thực hiện các chính sách an sinh xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo và cải thiện an sinh xã hội. Trong giai đoạn 2006-2012, tín dụng cho nền kinh tế tăng bình quân 28,09%/năm, cao hơn mức tăng bình quân 26,1%/năm của giai đoạn 2001-2005 [62, tr.1] và tỷ lệ tín dụng trên tổng sản phẩm trong nước (GDP) từ hơn 68% năm 2006 lên hơn 104% vào năm 2012 (xem Bảng 2.

Tín dụng ngân hàng cấp cho hộ nghèo trong giai đoạn 2003-2012 đã gia tăng cao, tổng dư nợ tín dụng ngân hàng đạt 113.921 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 32,8%. Đến cuối năm 2012 có gần 7,1 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ, với dư nợ bình quân 16 triệu đồng/hộ. Tín dụng ngân hàng đã góp phần tích cực trong việc thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo trong thời kỳ 2001-2005 giảm từ 17% xuống 7%; trong thời kỳ 2005-2010 giảm từ 22% xuống 9,45% và trong thời kỳ 2011-2012 giảm từ 14,2% xuống còn 10% [92, tr.

2 Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), theo nhận định của Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố, với “Dư nợ tín dụng tăng trưởng bình quân 38,9%/năm, huy động vốn tăng 38,8%/năm (giai đoạn 2005-2010), đóng góp tích cực vào quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, thúc đẩy kinh tế thành phố tăng trưởng liên tục trong suốt 38 năm qua”[60, tr.1] và tỷ lệ tín dụng trên GDP từ hơn 115% năm 2006 lên hơn 138% vào năm 2012 (xem Bảng 2. Đồng thời, để thực hiện hiệu quả chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá, trên địa bàn TP.HCM đã mở rộng cho vay đến cuối năm 2012 hơn 2.771 tỷ đồng và đến thời điểm giữa năm 2013 là 2.129 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ các hộ nghèo, hộ cận nghèo tổ chức sản xuất, tạo tích lũy, tăng thu nhập, giảm nghèo và ổn định cuộc sống. Qua đó, góp phần vào công tác giảm nghèo, thực hiện dứt điểm, không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia tính đến cuối năm 2012 [47, tr. Với vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng, nên sự an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống các TCTD là nhân tố quan trọng đối với sự ổn định hệ thống tài chính quốc gia và kinh tế vĩ mô.

Tuy nhiên, do tác động của khủng hoảng tài chính trên thế giới trong các năm gần đây, bắt đầu từ năm 2007-2008 khủng hoảng tài chính tại Hoa Kỳ và lan rộng khắp thế giới. Một trong những nguyên nhân của khủng hoảng là do sụp đổ của thị trường tín dụng qua hoạt động cho vay mua nhà dưới chuẩn khi giá nhà tại Hoa Kỳ suy giảm và chính sách tiền tệ nới lỏng của Hoa Kỳ đã gây ra hiệu ứng lan tỏa nhanh trên thị trường tài chính sang một loạt nước châu Âu như Đức, Pháp, Bỉ, Hà lan, Ý, Thụy sĩ, Ai len. 3 Những tác động làm lan tỏa nhanh khủng hoảng tài chính thế giới xuất phát từ thị trường tài chính phát triển nhanh với các mô hình, hoạt động kinh doanh mới, các sản phẩm tài chính đa dạng, phức tạp kéo theo rủi ro lớn hơn; khuôn khổ quản lý và giám sát ngân hàng cũng như nhận thức và chuẩn mực an toàn HĐTD không được nâng cấp tương ứng để duy trì an toàn và ổn định tài chính; các ngân hàng mở rộng cho vay, không quan tâm chất lượng người vay, chứng khoán hóa ngay các khoản vay đó và chuyển giao rủi ro tín dụng cho nhà đầu tư; quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro yếu kém tại các định chế tài chính và nhiều nơi chấp nhận rủi ro quá mức, duy trì mức vốn quá thấp, phụ thuộc thái quá vào các nguồn vốn ngắn hạn, chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá; đồng thời, sự thiếu cẩn trọng trong chính sách kinh tế vĩ mô, và đi liền với đó là thiếu sự quan tâm đến giám sát cẩn trọng vĩ mô là nguyên nhân xuất hiện tại hầu hết các cuộc củng hoảng. Những mất cân đối lớn cả về kinh tế vĩ mô và trên thị trường tài chính đã không được các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý giám sát quan tâm đầy đủ.

Một phần là do chưa có cơ quan nào hoạt động thật hữu hiệu để theo dõi, xác định, và xử lý các rủi ro chéo, rủi ro hệ thống. Một phần cũng vì các cơ quan quản lý, giám sát đã không có được sức mạnh và sự độc lập cần thiết để bảo về ổn định tài chính [84, tr. 4 Tại Việt Nam, HĐTD ngân hàng từng bước triển khai trong khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn thiện và đúc kết kinh nghiệm quốc tế từ các cuộc khủng hoảng nói trên để vận dụng phù hợp với tình hình cụ thể ở Việt Nam. Các chuẩn mực quốc tế về quản lý rủi ro đối với từng hình thức cấp tín dụng, vể giới hạn tín dụng, về thanh tra, giám sát,.

được thể chế hoá và triển khai thực hiện. Tuy vậy, HĐTD ngân hàng tại Việt Nam còn chứa đựng nhiều rủi ro do phát triển quy mô tín dụng quá lớn. Tổng dư nợ tín dụng tăng từ 25% GDP năm 1995 [56, tr.2] lên 68% năm 2006 và 104% vào năm 2012 (xem Bảng 2. Đến năm 2012, tuy dư nợ tín dụng đã được khống chế một bước, nhưng hệ quả của sự phát triển tín dụng quá “nóng” những năm trước đó vẫn đe dọa sự ổn định hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia, ảnh hưởng đến tăng trưởng ổn định của nền kinh tế.

Tăng trưởng tín dụng thường rất cao trong những năm trước đây, đã suy giảm mạnh trong các năm 2010, 2011 và 2012, đi kèm theo là tỷ lệ nợ xấu gia tăng nhanh và nợ có nguy cơ mất vốn chiếm tỷ trọng cao. Qua cơ cấu tín dụng cho thấy những quan ngại, cơ cấu tín dụng theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh trong tổng số khoảng 250 nghìn tỷ đồng dư nợ cho vay bất động sản, số đầu tư vào phân khúc phát triển dự án xây dựng và đầu cơ bất động sản ước chiếm tới 90% [57, tr.3] và “Trong bối cảnh thị trường bất động sản tiếp tục đóng băng, sụt giá và chưa có dấu hiệu hồi phục thì riêng nợ xấu từ khu vực này có thể chiếm tới 60% tổng nợ xấu ngân hàng” [57, tr. Theo Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012 do Ủy ban Kinh tế Quốc hội thực hiện, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong năm 2011 và sang đầu năm 2012 đối diện với các vấn đề lớn đe dọa đến tính ổn định của toàn hệ thống bao gồm tỉ lệ nợ xấu cao, thanh khoản kém, sai lệch kép ở cả cơ cấu thời hạn và cơ cấu đồng tiền. Đây là những rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và trong HĐTD nói riêng của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

5 Trên địa bàn TP.HCM, tăng trưởng tín dụng ngân hàng cũng theo tình hình chung của toàn hệ thống, quy mô tín dụng khá lớn, tổng dư nợ tín dụng tăng từ 115% GDP năm 2006 lên gần 139% vào năm 2012 (xem Bảng 2.6) đã ẩn chứa nhiều rủi ro trong HĐTD. Tăng trưởng tín dụng chậm lại trong các năm gần đây, nợ xấu của các TCTD trên địa bàn có xu hướng tăng, trong đó một số TCTD có tỷ lệ nợ xấu cao hơn 5%, tỷ trong nợ có khả năng mất vốn cũng chiếm tỷ trọng cao trong tổng nợ xấu [24, tr.5] và chất lượng tín dụng giảm sút. “Nợ quá hạn, nợ xấu ngoài phát sinh ngày càng tăng về mức độ, về tốc độ và tỷ lệ, còn phát sinh tăng theo số lượng ngày càng nhiều NHTM có nợ xấu tăng cao, cho thấy nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh tăng cao với nguy cơ mất vốn ngày càng lớn và đã lan tỏa rộng khắp hệ thống NHTM” [9, tr. Nguyên do, tăng trưởng tín dụng cao nhiều năm chưa được cảnh báo đúng lúc, nhiều NHTM dự báo quá tự tin về phát triển của thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản trong tương lai, đã cấp tín dụng ở mức độ lớn vào các lĩnh vực này và gặp nhiều rủi ro khi thị trường chứng khoán giảm sút, thị trường bất động sản đóng băng.

Mặt khác, trong những năm vừa qua, HĐTD của các NHTM bị tác động bởi kinh tế vĩ mô bất ổn, chính sách tiền tệ thắt chặt (lãi suất gia tăng, hạn chế tăng trưởng tín dụng, đặc biệt hạn chế cho vay trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản, chứng khoán, hạn chế cho vay tiêu dùng) đồng thời do tác động từ những khó khăn của các doanh nghiệp và từ các yếu tố bên trong của các NHTM… đã làm cho nợ quá hạn phát sinh với mức độ gia tăng và rủi ro trong HĐTD ngày càng lớn. 6 Từ thực tế trên cho thấy, HĐTD của các NHTM tại Việt Nam nói chung và các NHTM trên địa bàn TP.HCM nói riêng, đã đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Với số lượng và quy mô hoạt động các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) trên địa bàn TP.HCM lớn nhất trong cả nước, HĐTD của các NHTMCP cũng đã đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo trên địa bàn trong những năm qua. Dù vậy, cho vay vẫn là hình thức cấp tín dụng chủ yếu và nhiều NHTMCP tập trung quá mức hoạt động cho vay vào các lĩnh vực rủi ro, đã làm gia tăng nợ xấu ngày càng cao.

Mặt khác, những bất ổn về tài chính tiền tệ thế giới và các cuộc khủng hoảng tiền tệ-ngân hàng trong những năm qua đã tác động với các mức độ khác nhau đến nền kinh tế Việt nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, làm cho kinh tế vĩ mô đất nước đã sa vào bất ổn, suy giảm kinh tế, tác động càng làm tăng thêm những khó khăn trong HĐTD tại nhiều NHTMCP. Từ đó, đã có những quy định pháp lý của NHNN và chỉ đạo, điều hành của NHNN Chi nhánh TP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ