Nghiên cứu Giải pháp Marketing Áp dụng Vận chuyển Hành khách Đường sắt - Luận án TS Lê Tiến Dũng

Nghiên cứu toàn diện về giải pháp marketing cho vận chuyển hành khách đường sắt. Luận án Tiến sĩ phân tích chiến lược, xu hướng và ứng dụng thực tế trong ngành.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Kinh tế

2014

177
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về marketing vận chuyển hành khách đường sắt

Marketing vận chuyển hành khách đường sắt là lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng các nguyên lý marketing vào hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng đường sắt tại Việt Nam. Tổng công ty Đường sắt Việt Nam quản lý mạng lưới đường sắt Bắc Nam với chiều dài hơn 1.600 km cùng nhiều tuyến nhánh quan trọng. Ngành đường sắt Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời, từng đóng vai trò chủ đạo trong vận tải hành khách. Tuy nhiên, sự cạnh tranh gay gắt từ hàng không và đường bộ đã buộc ngành đường sắt phải thay đổi tư duy kinh doanh. Nghiên cứu marketing giúp doanh nghiệp đường sắt hiểu rõ thị trường, xác định đúng đối tượng khách hàng và xây dựng chiến lược phù hợp. Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Tiến Dũng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận marketing vận tải, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp cụ thể cho Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.

1.1. Mô hình tổ chức Tổng công ty Đường sắt Việt Nam

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ với các công ty con chuyên biệt hóa. Hệ thống bao gồm Công ty Vận tải hành khách đường sắt Hà Nội, Công ty Vận tải hành khách đường sắt Sài Gòn cùng nhiều đơn vị dịch vụ hỗ trợ. Mạng lưới đường sắt kết nối các thành phố lớn từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh, đi qua hàng trăm ga lớn nhỏ. Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm đầu máy, toa xe, hệ thống tín hiệu và nhà ga. Mô hình tổ chức này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng triển khai chiến lược marketing thống nhất trên toàn mạng lưới. Sự phân chia quản lý theo khu vực tạo ra cả ưu điểm linh hoạt lẫn thách thức trong phối hợp chiến lược.

1.2. Các loại tàu khách và đặc điểm luồng hành khách

Hệ thống tàu khách đường sắt Việt Nam gồm nhiều loại tàu phục vụ đa dạng nhu cầu đi lại. Các đoàn tàu thống nhất SE chạy toàn tuyến Hà Nội Sài Gòn với toa ghế ngồi, giường nằm và toa chất lượng cao. Tàu khu đoạn phục vụ hành khách trên các chặng ngắn như Hà Nội Vinh, Hà Nội Lào Cai. Đặc điểm luồng hành khách phân hóa rõ rệt theo mùa vụ, dịp lễ tết và tuyến đường. Hành khách đi tàu chủ yếu gồm nhóm đi công tác, nhóm du lịch nghỉ dưỡng và nhóm hành khách có thu nhập trung bình thấp. Mỗi nhóm có nhu cầu khác nhau về giá vé, tiện nghi và thời gian di chuyển, đòi hỏi doanh nghiệp phải phân khúc thị trường chính xác.

II. Phân tích thực trạng công tác marketing ngành đường sắt

Thực trạng công tác marketing trong ngành đường sắt Việt Nam còn nhiều hạn chế so với yêu cầu cạnh tranh thị trường. Doanh nghiệp đường sắt chủ yếu bán sản phẩm vận tải truyền thống, chưa chú trọng phát triển sản phẩm dịch vụ gia tăng. Hệ thống phân phối vé phụ thuộc lớn vào quầy bán vé tại ga, chưa phát triển kênh bán trực tuyến hiệu quả. Chính sách giá vé thiếu linh hoạt, chưa áp dụng triệt để phương pháp giá động theo cung cầu thị trường. Hoạt động xúc tiến quảng bá còn manh mọ, chưa xây dựng được thương hiệu mạnh trong tâm trí người tiêu dùng. Môi trường vĩ mô với sự chuyển đổi cơ chế quản lý từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường đã tạo ra thách thức lớn. Cạnh tranh từ hàng không giá rẻ và xe khách giường nằm ngày càng gay gắt, đe dọa thị phần vận tải đường sắt.

2.1. Thị trường vận tải hành khách và cạnh tranh liên ngành

Thị trường vận tải hành khách Việt Nam trải qua chuyển biến mạnh mẽ với sự tham gia của nhiều phương thức vận tải. Hàng không giá rẻ mở rộng mạng lưới đường bay nội địa, thu hút lượng lớn hành khách trung và dài tuyến. Xe khách giường nằm cao cấp phát triển nhanh chóng trên các tuyến liên tỉnh với giá cạnh tranh. Đường sắt chiếm thị phần ngày càng thu hẹp, đặc biệt trên các tuyến ngắn và trung bình. Thị phần vận tải đường sắt giảm từ mức chủ đạo xuống chỉ còn khoảng vài phần trăm tổng nhu cầu đi lại liên tỉnh. Sự cạnh tranh liên ngành buộc đường sắt phải tìm kiếm lợi thế riêng về an toàn, ổn định lịch trình và khả năng vận tải khối lượng lớn.

2.2. Nhu cầu và hành vi tiêu dùng dịch vụ vận tải hành khách

Nghiên cứu hành vi tiêu dùng dịch vụ vận tải hành khách cho thấy sự phân hóa rõ rệt trong quyết định lựa chọn phương tiện. Quy trình đi lại của hành khách bắt đầu từ nhận thức nhu cầu, tìm kiếm thông tin, so sánh lựa chọn và đánh giá sau chuyến đi. Yếu tố ảnh hưởng chính bao gồm giá vé, thời gian di chuyển, mức độ tiện nghi và sự an toàn. Điều tra ý kiến hành khách đi tàu cho thấy nhiều phản hồi về chất lượng phục vụ, vệ sinh toa xe và thời gian tàu chạy chưa ổn định. Hành khách thu nhập cao ưu tiên tiện nghi và thời gian ngắn. Hành khách thu nhập thấp quan tâm giá vé phải chăng. Phân loại hành khách giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược tiếp cận từng phân khúc thị trường mục tiêu hiệu quả hơn.

III. Các giải pháp marketing áp dụng vào vận tải đường sắt

Giải pháp marketing áp dụng vào vận tải đường sắt bao gồm hệ thống chính sách marketing mix toàn diện. Sản phẩm vận tải cần được cải tiến với các dịch vụ mới như tàu du lịch cao cấp, tàu chuyên biệt cho hành khách doanh nghiệp. Giá vé áp dụng cơ chế giá động linh hoạt theo mùa, theo giờ khởi hành và mức độ đặt trước. Hệ thống phân phối đa kênh kết hợp bán vé trực tuyến, ứng dụng di động và hệ thống đại lý ủy quyền. Hoạt động xúc tiến cần xây dựng chiến dịch truyền thông tích hợp, tận dụng mạng xã hội và công nghệ số. Mô hình bài toán lựa chọn hành trình của hành khách được xây dựng dựa trên lý thuyết hành vi người tiêu dùng. Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp khảo sát thực tế giúp đánh giá hiệu quả từng giải pháp marketing đề xuất.

3.1. Xây dựng khung chính sách marketing mix cho đường sắt

Khung chính sách marketing mix cho vận tải hành khách đường sắt được xây dựng trên bốn yếu tố cốt lõi. Về sản phẩm, doanh nghiệp cần thiết kế sản phẩm mới như tàu du lịch sinh thái, tàu sự kiện và gói dịch vụ kết hợp lưu trú. Về giá, áp dụng bảng giá phân tầng theo hạng ghế, thời điểm đặt vé và chương trình khách hàng thân thiết. Về phân phối, mở rộng mạng lưới bán vé qua nền tảng số, hợp tác với công ty du lịch và hệ thống đại lý rộng khắp. Về xúc tiến, xây dựng chiến dịch quảng bá thương hiệu đường sắt an toàn, thân thiện môi trường. Các nguyên tắc lựa chọn biện pháp marketing phải phù hợp đặc thù ngành vận tải, đảm bảo tính khả thi trong triển khai thực tế.

3.2. Phát triển sản phẩm mới và ứng dụng công nghệ marketing

Quá trình thiết kế sản phẩm mới trong vận tải đường sắt trải qua nhiều giai đoạn từ ý tưởng đến triển khai thực tế. Các sản phẩm mới bao gồm tàu du lịch tuyến xuyên Việt, tàu cao tốc phục vụ hành khách công vụ và tàu chuyên biệt cho sự kiện đặc biệt. Ứng dụng công nghệ marketing số giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng mục tiêu hiệu quả hơn. Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng CRM lưu trữ thông tin hành khách, phân tích hành vi và cá nhân hóa dịch vụ. Nghiên cứu thị trường liên tục qua khảo sát trực tuyến và phản hồi khách hàng giúp doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược kịp thời. Ứng dụng di động đặt vé với giao diện thân thiện tăng trải nghiệm hành khách và nâng tỷ lệ chuyển đổi bán hàng.

IV. Kết luận và ứng dụng giải pháp marketing đường sắt

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận marketing vận tải và phân tích toàn diện thực trạng marketing tại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ngành đường sắt đang đối mặt nhiều thách thức cạnh tranh nghiêm trọng từ các phương thức vận tải khác. Các giải pháp marketing đề xuất bao gồm cải tiến sản phẩm dịch vụ, linh hoạt hóa chính sách giá, đa dạng kênh phân phối và tăng cường xúc tiến truyền thông. Mô hình phân khúc thị trường giúp doanh nghiệp xác định đúng đối tượng khách hàng mục tiêu cho từng tuyến đường. Phương pháp hành vi người tiêu dùng cung cấp công cụ dự báo xu hướng đi lại và đánh giá hiệu quả chiến dịch marketing. Ứng dụng thực tiễn các giải pháp này giúp ngành đường sắt nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng thị phần vận tải hành khách và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Về mặt lý luận, luận án đóng góp hệ thống kiến thức khoa học về ứng dụng marketing trong ngành vận tải đường sắt Việt Nam. Nghiên cứu xây dựng mô hình phân tích marketing mix đặc thù cho dịch vụ vận tải hành khách bằng đường sắt. Phương pháp tiếp cận đa chiều kết hợp lý thuyết marketing hiện đại với thực tiễn ngành đường sắt tạo nền tảng học thuật vững chắc. Về thực tiễn, các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam. Doanh nghiệp đường sắt có thể áp dụng từng bước các giải pháp marketing vào hoạt động kinh doanh hàng ngày. Kết quả nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo giá trị cho các doanh nghiệp vận tải khác trong quá trình xây dựng chiến lược marketing.

4.2. Hướng phát triển và khuyến nghị triển khai

Triển khai các giải pháp marketing cần thực hiện theo lộ trình cụ thể với từng giai đoạn ưu tiên. Giai đoạn đầu tập trung cải thiện hạ tầng bán vé trực tuyến và nâng cấp chất lượng dịch vụ cơ bản trên tàu. Giai đoạn tiếp theo triển khai chương trình khách hàng thân thiết và hệ thống giá động theo cung cầu. Doanh nghiệp cần đầu tư đào tạo nhân viên về kỹ năng marketing và chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp. Hợp tác với các công ty du lịch xây dựng sản phẩm tour kết hợp tàu đường sắt và điểm đến du lịch. Giám sát đánh giá hiệu quả chiến dịch marketing bằng hệ thống chỉ tiêu đo lường rõ ràng. Nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dự báo nhu cầu và cá nhân hóa dịch vụ vận tải hành khách đường sắt.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu các giải pháp marketing áp dụng vào công tác vận chuyển hành khách trên đường sắt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM CÔNG TÁC VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH TRÊN ĐƯỜNG SẮT 1. Khái quát về tổng công ty đường sắt Việt Nam. Lịch sử đường sắt Việt Nam bắt đầu từ năm 1881 với việc khởi công xây dựng tuyến đường sắt giữa Sài Gòn - Mỹ Tho. Sau 4 năm, chuyến tàu đầu tiên bắt đầu khởi hành từ Sài Gòn đi Mỹ Tho ngày 20/7/1885.

Trong giai đoạn giữa năm 1882 và 1936 các tuyến đuờng chính đã được xây dựng theo công nghệ của Pháp theo loại khổ đường 1m. Trong thời kỳ kháng chiến và cho tới khi thống nhất đất nước, đường sắt Việt Nam bị chiến tranh làm thiệt hại nặng nề. Sau khi đất nước thống nhất, kể từ năm 1976 đường sắt được nhà nước ưu tiên khôi phục, đặc biệt là tuyến đường sắt Thống nhất Bắc Nam. Cho nên, đường sắt phát huy tối đa trong công tác vận chuyển hành khách.

Tuy nhiên, do tình trạng thiếu vốn nên việc phục hồi hoàn toàn vẫn chưa thực hiện được. Sau khi chuyển đổi cơ cấu và chuyển sang cơ chế thị trường năm 1989, đường sắt Việt Nam bắt tay vào chương trình khôi phục và hiện đại hoá đường sắt để ngành đường sắt trở thành một ngành vận tải hàng đầu của Việt Nam, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và hoà nhập với các đường sắt Quốc tế. Trước năm 1989, toàn bộ hệ thống đường sắt do một cơ quan Trung ương chi phối, lúc đó được gọi là Tổng cục Đường sắt với trụ sở tại Hà Nội. Từ năm 1989 đến ngày 04-3-2003, ngành đường sắt được cơ cấu lại thành một doanh nghiệp nhà nước với tên là Liên hiệp Đường sắt Việt Nam, hoạt động trên nguyên tắc thị trường mở.

Thực hiện Quyết định 34/QĐ-TTg ngày 4-3-2003 về việc thành lập Tổng Công ty đường sắt Việt Nam [12], ngày 13-6-2003, tại Trụ sở Liên hiệp đường sắt Việt Nam đã triển khai các quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ GTVT bổ nhiệm các ủy viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Tổng Công ty ĐSVN. Từ ngày 7-7-2003 đường sắt Việt Nam chính thức đi vào hoạt động theo mô hình Tổng Công ty đường sắt, trong đó khối vận tải bao gồm 4 đơn vị 9 chính là Công ty vận tải hành khách đường sắt Hà Nội, Công ty vận tải hành khách đường sắt Sài Gòn, Công ty vận tải hàng hóa đường sắt và Trung tâm điều hành vận tải đường sắt. Ngày 13-11-2009 Thủ tướng chính phủ Việt Nam có Quyết định 1883/QĐ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ- Tổng công ty ĐSVN. Tiếp đó ngày 25-6-2010 Thủ tướng chính phủ Việt Nam có Quyết định 973/QĐ-TTg chuyển Công ty mẹ là Tổng công ty ĐSVN thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHHMTV) do nhà nước làm chủ sở hữu.

Cơ quan của Tổng công ty đường sắt Việt Nam đóng trụ sở tại 118 đường Lê Duẩn, Hà Nội, là một tổ chức tham mưu cho Lãnh đạo Tổng công ty và có nhiệm vụ giám sát và cộng tác với các Công ty và Trung tâm điều hành vận tải cũng như các đơn vị trực thuộc trong các lĩnh vực liên quan đến Đường sắt. Cơ quan này cũng chịu trách nhiệm về chiến lược phát triển Đường sắt và các dự án đầu tư nước ngoài cũng như chương trình hiện đại hoá Đường sắt. Mô hình tổ chức của Tổng công ty ĐSVN hiện nay như sau: 1.1 Mô hình tổ chức của Tổng công ty ĐSVN hiện nay. HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN BAN KIỂM SOÁT TỔNG GIÁM ĐỐC VÀ CÁC PHÓ TỔNG CÁC BAN CHUYÊN MÔN, VĂN PHÒNG TCT NGHIỆP VỤ CÁC ĐƠN VỊ HẠCH CÁC CÔNG TY NHÀ CÁC CÔNG TY CỔ CÁC CÔNG TY CÁC ĐƠN VỊ TOÁN PHỤ THUỘC: NƯỚC HẠCH TOÁN PHẦN CÔNG ÍCH HẠCH QUẢN LÝ KHÔNG - HAI CÔNG TY VẬN ĐỘC LẬP: TOÁN ĐỘC LẬP SẢN XUẤT TẢI HÀNH KHÁCH ĐS - CÔNG TY TNHH1TV - 11 CÔNG TY DỊCH - 15 CÔNG TY HÀ NỘI, SÀI GÒN; XE LỬA DI AN.

VỤ VÀ VẬT TƯ TNHH 1 TV QUẢN - 6BAN QUẢN LÝ TRUNG TÂM -2 CÔNG TYCỔPHẦN LÝ ĐƯỜNG SẮT. DỰ ÁN YTĐS IN ĐS - 05 CÔNG TY - TRƯỜNG CAO - BÁO ĐS. - 15 CÔNG TY XÂY TNHH 1 TV ĐẲNG NGHỀ ĐS. -TRUNG TÂM ĐHVTĐS DỰNG VÀ CÔNG THÔNG TIN TÍN - TRUNG TÂM TRÌNH HIỆU ĐƯỜNG SẮT UPSCTT$CNĐS - 3CÔNG TY CƠ KHÍ Hình 1.1: Mô hình tổ chức của TCT ĐSVN 10 Tổng công ty ĐSVN là loại hình doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, có tư cách pháp nhân, con dấu, điều lệ tổ chức và hoạt động; được mở tài khoản tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ tại kho bạc Nhà nước, các ngân hàng trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; trực tiếp thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và đầu tư vốn vào các doanh nghiệp khác; có trách nhiệm thừa kế các quyền và nghĩa vụ pháp lý của Tổng công ty ĐSVN theo quy định của pháp luật.

Tổng công ty ĐSVN có vốn và tài sản riêng, tự chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ bằng toàn bộ tài sản của mình theo quy định của pháp luật. - Ngành nghề kinh doanh của ĐSVN bao gồm: + Kinh doanh vận tải ĐS, vận tải đa phương thức trong nước và liên vận quốc tế; + Quản lý, khai thác, bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống kết cấu hạ tầng ĐS quốc gia; + Kinh doanh hệ thống kết cấu hạ tầng ĐS; + Điều hành giao thông vận tải ĐS; + Tư vấn, khảo sát, thiết kế, chế tạo, đóng mới và sửa chữa các phương tiện, thiết bị, phụ tùng chuyên ngành ĐS và các sản phẩm cơ khí. + Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, thực phẩm, đồ uống; + Kinh doanh du lịch, khách sạn, xuất nhập khẩu hàng hóa; + Tư vấn, khảo sát, thiết kế, xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, công nghiệp và dân dụng; + Dịch vụ viễn thông và tin học; + Kinh doanh xăng, dầu, mỡ bôi trơn của ngành ĐS; In ấn. - Ngành nghề kinh doanh khác: + Kinh doanh bất động sản; Xuất khẩu lao động.2 Mạng lưới ĐSVN và hiện trạng cơ sở vật chất kĩ thuật Kết cấu hạ tầng đường sắt Tổng chiều dài của mạng lưới ĐS là 3.632 km đường sắt chính tuyến, 402,69 km đường ga, 107,95 km đường nhánh (không tính hơn 300 km đang do các ngành ngoài đường sắt khai thác: Công ty Apatít Lào Cai, Tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty xi măng Việt Nam – Vicem,.) 11 - Phân bố mạng lưới đường sắt: + Mạng lưới đường sắt tập trung chủ yếu ở phía Bắc 1.120 km (từ Tây - Đông) và chạy dọc đất nước theo hướng Bắc – Nam chiều dài cả tuyến nhánh khoảng 2.010 km từ Hà Nội – TP Hồ Chí Minh.

+ Mạng lưới đường sắt đi qua 35 trong số 63 tỉnh thành phố và các thành phố lớn trên nhiều tuyến đường (Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Thái Nguyên, Việt Trì, Yên Bái, Lào Cai Vinh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt,. + Mạng lưới ĐS đi qua các vùng dân cư, khu kinh tế, các trung tâm văn hoá, chiếm 57% tổng dân cư, 47% về tổng diện tích đất, 60% về GDP của cả nước. - Khổ đường: Mạng lưới ĐS gồm 3 loại khổ đường: + Khổ đường 1000mm dài 2.622, 47 km chiếm 83, 4% so tổng số. + Khổ đường 1435mmm dài 209, 17 km chiếm 6, 65% so tổng số.

+ Khổ đường lồng (vừa 1000mm và 1435mm) dài 311, 05 km chiếm 9, 95% so tổng số.1: Mạng lưới đường sắt Việt Nam Đơn vị: km Chiếm tỷ lệ Tuyến chính Chiều dài Khổ đường (%) Hà Nội - TP Hồ Chí Minh 1.000 mm 69,3 Gia Lâm - Hải Phòng 97 1.000 mm 3,9 Yên Viên - Lào Cai 285 1.000 mm 11,4 Đường lồng (1.435 Hà Nội - Đồng Đăng 164 6,6 &1.000 mm) Đường lồng (1.435 Đông Anh - Quán Triều 55 2,2 &1.000 mm) Kép - Uông Bí - Hạ Long 106 1.435 mm 2,3 Tổng cộng 2489 100 (Nguồn Ban cơ sở hạ tầng – Tổng công ty ĐSVN) Phương tiện đầu máy – toa xe - Về toa xe 12 Toa xe khách: Tổng Công ty ĐSVN hiện đang quản lý và khai thác trên 1000 toa xe khách các loại, bao gồm khổ đường 1000mm, 1435mm và đường lồng, toa xe khách chất lượng cao (thế hệ 2) và toa xe khách thế hệ 1.2: Số lượng và chủng loại toa xe khách Tổng số Dùng Năng lực chuyên chở TT Loại toa xe (xe) được (xe) (Chỗ) (Tấn) Tổng số (I + II) 1.034 1 Xe giường mềm An 188 188 5.264 2 Xe giường cứng Bn 159 159 6.678 3 Xe ngồi mềm A 155 155 10.695 4 Xe ngồi cứng B80 256 256 20.480 5 Xe ngồi cứng B64 58 58 3.712 6 Xe ghế dọc C 50 50 3.200 7 Xe hàng cơm HC 61 61 1.830 8 Xe công vụ- phát điện 72 72 1.152 9 Xe hành lý HL 31 31 248 10 Xe 2 trục 4 4 II Toa xe 1.435 mm 8 8 1 Xe ngồi mềm Br 2 2 240 - 2 Xe ghế dọc Cr 5 5 420 - 3 Xe hành lý HLr 1 1 - 40 (Nguồn niêm giám thống kê ĐSVN năm 2012) Đặc điểm của toa xe khách: - Toa xe đường 1000mm là chủ yếu (toa xe đường 1435mm chiếm tỷ lệ thấp chỉ có 8 xe còn vận dụng được 8 xe). Nên tổng số xe hiện có là 1042 xe - Toa xe chở khách đường 1000mm là 1034 toa xe chiếm 99%, toa xe phục vụ hành khách đường 1435 chiếm 1%. - 382 xe lắp điều hoà không khí. - 80 xe lắp giá chuyển hướng cao cấp lò so không khí.

- Trong số các toa xe tiện nghi trung bình (gọi tắt là thế hệ 1) có 30% đã sử dụng trên 30 năm. Với số toa xe khách hiện có, ĐSVN chỉ đáp ứng được nhu cầu đi lại bình thường của nhân dân, nghĩa là với biểu đồ chạy tàu hiện tại chúng ta đảm bảo đủ số toa xe chất lượng tốt cho các đoàn tàu, song vào những dịp hè, Tết 13 hàng năm thì số lượng toa xe như hiện nay không đủ.Thường khi dịp hè, Tết ngành đã phải huy động hầu hết số toa xe ra vận dụng thậm chí có khi huy động tới 100% số toa xe khách hiện có vào chạy tàu. Do không đủ toa xe nên thành phần đoàn tàu không thống nhất gây khó nhất định cho công tác bán vé và công tác quản lý, vận dụng hàng ngày. Điều đó làm ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ vận tải của ngành.

- Về đầu máy: Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ