Luận án Tiến sĩ: Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam - Hà Thị Hương Lan

Phân tích sâu về công nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong các ngành ô tô, dệt may và điện tử. Nghiên cứu hiện trạng, thách thức và giải pháp phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ Kinh tế

2014

199
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam

Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đóng vai trò nền tảng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là nhóm ngành sản xuất nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng và cung cấp dịch vụ cho các ngành công nghiệp lắp ráp cuối cùng. Ở Việt Nam, CNHT tập trung chủ yếu vào ba ngành mũi nhọn: xe máy, dệt may và điện tử. Quá trình phát triển CNHT gắn liền với sự hình thành các cụm liên kết ngành, khu công nghiệp và mối liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khối đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chính sách công nghiệp trung dài hạn của Chính phủ tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển lĩnh vực này. Việc tiêu chuẩn hóa sản phẩm, ban hành quy chuẩn phù hợp tiêu chuẩn quốc tế giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp CNHT. Mối liên kết chặt chẽ giữa nhà cung cấp và nhà sản xuất cuối cùng là điều kiện tiên quyết để ngành CNHT phát triển bền vững và tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu.

1.1. Khái niệm và đặc điểm công nghiệp hỗ trợ

Công nghiệp hỗ trợ là ngành sản xuất trung gian, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp hạ nguồn. Bao gồm sản xuất nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và cung cấp dịch vụ công nghiệp. Đặc điểm nổi bật của CNHT là tính liên kết cao giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp CNHT thường là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đòi hỏi đầu tư công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng. Sản phẩm CNHT phải đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe từ nhà sản xuất lắp ráp cuối cùng.

1.2. Vai trò của công nghiệp hỗ trợ đối với nền kinh tế

CNHT có vai trò then chốt trong việc tăng giá trị nội địa hóa sản phẩm công nghiệp. Phát triển CNHT giúp giảm nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ và nâng cao năng lực sản xuất quốc gia. Ngành này tạo ra chuỗi giá trị nội địa, thúc đẩy cụm liên kết ngành phát triển. CNHT còn là cầu nối thu hút đầu tư nước ngoài, tạo việc làm và nâng cao trình độ công nghệ cho doanh nghiệp trong nước. Sự phát triển của CNHT quyết định khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của nền kinh tế.

II. Phân tích thực trạng và thách thức phát triển công nghiệp hỗ trợ

Thực trạng CNHT Việt Nam giai đoạn 2006-2013 cho thấy nhiều tồn tại đáng lo ngại. Tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành xe máy, dệt may và điện tử còn thấp. Doanh nghiệp CNHT trong nước chủ yếu sản xuất sản phẩm đơn giản, hàm lượng công nghệ thấp. Năng lực cạnh tranh yếu, chưa đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế của các nhà sản xuất lớn. Mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa còn lỏng lẻo. Nguyên nhân chính bao gồm: thiếu vốn đầu tư, công nghệ lạc hậu, nguồn nhân lực không đạt yêu cầu và cơ chế chính sách chưa đồng bộ. Thách thức lớn nhất là áp lực cạnh tranh từ sản phẩm nhập khẩu giá rẻ, đặc biệt từ Trung Quốc và các nước ASEAN. Doanh nghiệp CNHT khó tiếp cận tín dụng ưu đãi và thiếu thông tin thị trường. Hạ tầng công nghiệp hỗ trợ chưa hoàn thiện, thiếu cơ sở dữ liệu ngành phục vụ kết nối cung cầu.

2.1. Thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ xe máy dệt may và điện tử

Ngành xe máy có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất trong ba ngành, đạt trên 80% với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm nội địa là linh kiện đơn giản. Ngành dệt may phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, tỷ lệ nội địa hóa chỉ khoảng 30-40%. Ngành điện tử có tỷ lệ nội địa hóa thấp nhất, dưới 20%, chủ yếu lắp ráp và gia công. Các doanh nghiệp FDI chiếm ưu thế trong chuỗi cung ứng, doanh nghiệp nội địa khó tham gia sâu.

2.2. Những khó khăn và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp hỗ trợ

Khó khăn lớn nhất là thiếu nguồn lực tài chính và công nghệ cho doanh nghiệp CNHT. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại. Môi trường kinh doanh còn nhiều rào cản, thủ tục hành chính phức tạp. Nhân tố tích cực bao gồm: sự ổn định chính trị, chính sách ưu đãi thuế thu nhập và thuế thiết bị máy móc. Hiệp định thương mại tự do mở ra cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế. Toàn cầu hóa tạo áp lực buộc doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh.

III. Giải pháp và phương pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam

Phát triển CNHT đòi hỏi giải pháp đồng bộ trên nhiều phương diện. Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách ưu đãi thuế, tín dụng cho doanh nghiệp CNHT. Thứ hai, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành phục vụ kết nối cung cầu giữa nhà cung cấp và nhà sản xuất. Thứ ba, phát triển cụm liên kết ngành gắn liền với khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đặc biệt với Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước ASEAN. Thứ năm, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu sản xuất công nghệ cao. Giải pháp then chốt là xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa. Chính phủ cần đóng vai trò kiến tạo, tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm phù hợp quốc tế, nâng cao trách nhiệm nhà sản xuất với cộng đồng. Khuyến khích chuyển giao công nghệ và hợp tác nghiên cứu phát triển giữa các bên liên quan.

3.1. Quan điểm chỉ đạo phát triển công nghiệp hỗ trợ

Quan điểm phát triển CNHT phải đặt trong tổng thể chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển CNHT cần gắn với hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Ưu tiên phát triển các ngành CNHT có lợi thế cạnh tranh và tiềm năng xuất khẩu. Xây dựng chính sách dài hạn, nhất quán tạo môi trường ổn định cho nhà đầu tư. Phát huy nội lực doanh nghiệp trong nước đồng thời thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc. Đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng sản phẩm.

3.2. Hệ thống giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp hỗ trợ

Giải pháp tài chính: xây dựng quỹ phát triển CNHT, ưu tiên tín dụng cho dự án đầu tư công nghệ mới. Giải pháp công nghệ: hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận dây chuyền sản xuất hiện đại, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Giải pháp nhân lực: đào tạo kỹ thuật viên, kỹ sư lành nghề theo nhu cầu thị trường. Giải pháp liên kết: phát triển cụm liên kết ngành, gắn kết khu công nghiệp với CNHT. Giải pháp thị trường: xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, tổ chức kết nối giao thương. Giải pháp thể chế: đơn giản hóa thủ tục hành chính, ban hành quy chuẩn sản phẩm quốc tế.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn phát triển công nghiệp hỗ trợ

Luận án khẳng định CNHT là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh công nghiệp quốc gia. Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng yếu kém của CNHT Việt Nam trong ba ngành xe máy, dệt may và điện tử. Nguyên nhân bao gồm thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, nhân lực yếu và chính sách chưa đồng bộ. Giải pháp đề xuất mang tính hệ thống, bao gồm hoàn thiện thể chế, phát triển cụm liên kết ngành và nâng cao năng lực doanh nghiệp. Kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và các nước ASEAN cho thấy vai trò quan trọng của Chính phủ trong kiến tạo môi trường phát triển. Ứng dụng thực tiễn bao gồm: xây dựng chiến lược phát triển CNHT dài hạn, triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển hạ tầng công nghiệp hỗ trợ. Kết quả nghiên cứu đóng góp vào lý luận kinh tế chính trị về phát triển công nghiệp ở nước đang phát triển. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung đánh giá tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với CNHT Việt Nam.

4.1. Kết luận chính của luận án

Luận án kết luận CNHT Việt Nam đang ở giai đoạn đầu phát triển, tiềm năng lớn nhưng thách thức nhiều. Ba ngành nghiên cứu có đặc điểm phát triển khác nhau, đòi hỏi giải pháp phù hợp từng ngành. Mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và nội địa là yếu tố then chốt. Chính sách hỗ trợ của Chính phủ có tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư vào CNHT. Cụm liên kết ngành là mô hình hiệu quả để phát triển CNHT. Nghiên cứu xác nhận vai trò quan trọng của tiêu chuẩn hóa sản phẩm và cơ sở dữ liệu ngành.

4.2. Ứng dụng và kiến nghị chính sách

Kiến nghị Chính phủ ban hành chiến lược phát triển CNHT quốc gia với lộ trình rõ ràng. Xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển CNHT, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phát triển hạ tầng khu công nghiệp gắn liền với cụm liên kết ngành. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đặc biệt với Nhật Bản qua JETRO và JICA. Xây dựng cơ sở dữ liệu ngành CNHT phục vụ kết nối cung cầu. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao theo nhu cầu thị trường. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho doanh nghiệp CNHT.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 “Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản”, với 11 nội dung đánh giá tổng quan về thực trạng và vấn đề phát triển CNHT hiện nay ở Việt Nam; Chương 2 “Công nghiệp hỗ trợ: Tổng quan về khái niệm và sự phát triển”, đã tổng kết lịch sử ra đời và năm khái niệm liên quan đến CNHT và đề xuất khái niệm cho Việt Nam. Đặc biệt trong Chương IV: “Thiết kế và quản lý cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ”, tác giả Junichi Mori đã đề xuất việc xây dựng cơ sở dữ liệu về CNHT, tác giả đã đưa ra những nguyên nhân đòi hỏi cần phải xây dựng cơ sở dữ liệu trong quá trình phát triển CNHT và chỉ ra những yêu cầu, đặc điểm của cơ sở dữ liệu. Thông qua đó, tác giả chứng minh việc xây dựng cơ sở dữ liệu là yêu cầu cấp bách, là “dầu bôi trơn” cần thiết trong chiến lược phát triển CNHT do FDI dẫn dắt và mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp trong nước. Tác giả đã phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển các ngành CNHT trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các công ty xuyên quốc gia.

Theo tác giả, chính các công ty xuyên quốc gia sẽ là “diễn viên” chính trong “vở kịch”: “Chuyên môn hóa sản xuất quốc tế”, còn CNHT chỉ là “diễn viên quần chúng” nhưng không thể thiếu được trong nền kinh tế toàn cầu. Thông qua bài viết, tác giả muốn khẳng định vai trò không ngừng tăng lên của ngành CNHT Việt Nam trong quá trình phân công lao động, chuyên môn hóa sản xuất trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. [47] - Trương Đình Tuyển - nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, (2011), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ. Kiến nghị cách tiếp cận và chính sách cho Việt 15 Nam”.

Bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Chính sách tài chính phát triển công nghiệp hỗ trợ” do Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính) và Viện Nghiên cứu Chiến lược chính sách công nghiệp (Bộ Công thương) tổ chức. Bài viết đã phân tích và làm rõ khái niệm CNHT và vị trí của CNHT trong chuỗi giá trị, từ đó chỉ ra việc lựa chọn sản phẩm CNHT cho Việt Nam. Đặc biệt, trong giải pháp tổ chức sản xuất các sản phẩm CNHT và những ưu đãi cho CNHT, tác giả đưa ra mô hình tổ chức sản phẩm CNHT theo sơ đồ hình thang với bốn giai đoạn, thông qua đó chỉ ra Việt Nam mới ở giai đoạn III và IV, sản xuất phần lớn những sản phẩm chi tiết có độ phức tạp không cao. Do đó, Việt Nam cần tạo mọi điều kiện cho CNHT phát triển lên đỉnh hình thang thông qua việc làm trước mắt là xây dựng và ban hành Nghị định, Luật về CNHT cũng như chương trình hành động quốc gia về CNHT và lập Cục Công nghiệp hỗ trợ thuộc Bộ Công thương để quản lý và phát triển CNHT.

Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ - Viện Kinh tế Việt Nam, (2007), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ: nghiên cứu trường hợp công nghiệp hỗ trợ cho ngành sản xuất ô tô, xe máy”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp viện do TS. Nguyễn Trọng Xuân chủ nhiệm. Nhóm tác giả đã đánh giá khái quát CNHT Việt Nam, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển, đặc biệt là đi sâu phân tích thực trạng CNHT trong hai ngành ô tô và xe máy thông qua việc nghiên cứu nhu cầu về sản phẩm hỗ trợ và thực trạng cung cấp sản phẩm hỗ trợ trong hai ngành này. Trên cơ sở đó đưa ra một loạt các giải pháp phát triển cho hai ngành ô tô và xe máy, đặc biệt là quan tâm, xây dựng một hệ thống CNHT đảm bảo phục vụ ngành công nghiệp ô tô, xe máy nói riêng, cũng như toàn ngành kinh tế nói chung.[112] - Đại học Ngoại thương, (2008), “Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử Việt Nam”.

Đề tài khoa học cấp Bộ, TS. Nguyễn Hoàng Ánh chủ nhiệm. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, trong 16 chiến lược phát triển các ngành công nghiệp, Việt Nam nên lựa chọn, định hướng phát triển ngành công nghiệp điện tử trở thành ngành mũi nhọn, mang tính đột phá chiến lược vì có nhiều ưu thế và lợi thế cạnh tranh. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, trong chuỗi giá trị toàn cầu Việt Nam nên tập trung vào công đoạn sản xuất, là khâu có thể tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của các tập đoàn điện tử quốc tế, chứ chưa nên tham gia vào khâu thiết kế, phân phối của chuỗi giá trị.

Trong quá trình đó, ở công đoạn sản xuất Việt Nam cần quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa hệ thống các sản phẩm hỗ trợ cho phát triển ngành công nghiệp điện tử.[5] - Nguyễn Ngọc Sơn, (2008), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam”, Tạp chí Công nghiệp số 359. Bài viết đưa ra các quan điểm về CNHT và CNHT ngành dệt may trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Trên cơ sở đó phân tích thực trạng ngành dệt may Việt Nam ở các tiêu chí như: lĩnh vực sản xuất xơ sợi tổng hợp, công nghiệp cơ khí ngành dệt may, công nghiệp hóa chất phục vụ ngành dệt may, tình hình sản xuất phụ liệu ngành dệt may. Trên cơ sở đó, tác giả đã đánh giá chung những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và chỉ ra nguyên nhân yếu kém của ngành dệt may và đưa ra giải pháp thúc đẩy CNHT ngành dệt may phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.[64] - Trương Thị Chí Bình, (2010), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam”; Luận án tiến sĩ kinh tế, Khoa Quản trị kinh doanh, Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.

Tác giả đã phân tích các luận cứ lý thuyết và thực tiễn về cách thức phát triển CNHT ngành điện tử gia dụng. Làm rõ bản chất, thành phần, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT, từ đó khẳng định quan điểm “hợp lý” về phát triển CNHT cho Việt Nam là dựa trên mạng lưới của “lý thuyết trò chơi”, với vai trò tích cực của các TĐĐQG và các nhà cung ứng quốc tế. Tác giả còn phân tích quy trình sản xuất các sản phẩm điện tử gia dụng, xác định phạm vi của CNHT ngành điện tử gia dụng bao gồm quá trình sản xuất 3 nhóm sản phẩm chính: linh kiện điện và điện tử, linh kiện kim loại, linh kiện nhựa và cao su. Nghiên cứu lý do CNHT 17 ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam chưa phát triển và khẳng định, CNHT ngành điện tử gia dụng có thể phát triển, khi Việt Nam tham gia được vào các lớp cung ứng trong mạng lưới sản xuất của các TĐĐQG.

Trên cơ sở các luận cứ này, Luận án kiến nghị một số giải pháp chính để phát triển CNHT ngành điện tử gia dụng: Xây dựng định hướng phát triển CNHT ngành ĐTGD Việt Nam với việc tập trung cung ứng các linh kiện kim loại và nhựa cho các lớp cung ứng trong mạng lưới sản xuất của các TĐĐQG, từ đó đề xuất chương trình phát triển CNHT ngành điện tử gia dụng; kiến nghị điều chỉnh Quy hoạch phát triển CNHT Việt Nam: xác định CNHT theo các ngành cung ứng; thu hẹp khái niệm CNHT; lựa chọn lĩnh vực ưu tiên và xây dựng chương trình hành động; xây dựng mô hình phát triển CNHT ngành ĐTGD theo 03 mức: Khu CNHT, Cụm liên kết ngành và Vườn ươm doanh nghiệp CNHT.[7] - Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp - Bộ Công thương, (2011), “Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam”, đề tài khoa học cấp Bộ. Đề tài đã đánh giá tổng quan thực trạng phát triển CNHT của ngành dệt may. Đề tài được chia làm ba phần nghiên cứu, trong Phần I, nhóm tác giả đi sâu phân tích năng lực của các doanh nghiệp CNHT trong ngành dệt may Việt Nam trên các mặt như: năng lực tài chính, năng lực công nghệ, năng lực thị trường và nguồn nhân lực. Từ đó, đánh giá những tiềm năng, lợi thế trong phát triển ngành dệt may Việt Nam.

Trong Phần II, các tác giả đã tập trung nghiên cứu mối liên kết trong ngành dệt may Việt Nam hiện nay, đồng thời cũng nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng và vận hành mô hình liên kết phù hợp với bối cảnh phát triển CNHT ngành dệt may Việt Nam trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, trong Phần III, nhóm tác giả đã đưa ra những giải pháp thúc đẩy CNHT ngành dệt may phát triển, trong đó đặc biệt nhấn mạnh hai giải pháp: nâng cao năng lực các doanh nghiệp CNHT ngành dệt may và vận hành có hiệu quả các mô hình liên kết.[103] - Nguyễn Thị Dung Huệ, (2012), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ 18 kinh tế, chuyên ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội. Tác giả luận án đã luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển CNHT ngành dệt may như: khái niệm CNHT ngành dệt may, mối quan hệ giữa ngành công nghiệp dệt may và CNHT ngành dệt may, vai trò của ngành CNHT dệt may với sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may. Từ đó tác giả đưa ra những tiêu chí đánh giá sự phát triển của ngành dệt may, trên cơ sở những tiêu chí đánh giá thực trạng ngành công nghiệp dệt may và CNHT ngành dệt may.

Tác giả đã đưa ra những giải pháp ở cả tầm vĩ mô và vi mô để thúc đẩy CNHT ngành dệt may Việt Nam phát triển.[43] - Đỗ Minh Thụy, (2012), “Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép - nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng”, Luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế, Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương. Tác giả đã luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về CNHT, các chỉ tiêu đánh giá và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam, từ đó xác định điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu thực trạng và nhu cầu về CNHT tại các doanh nghiệp giày dép ở Hải Phòng, từ đó xác định quan điểm, phương hướng, đề xuất 04 nhóm giải pháp phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam trong thời gian tới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ