Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Thực trạng thiết lập kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Chương 5: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam , 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG 2. Kiểm soát nội bộ 2. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Trước năm 1905 KSNB vẫn chưa được đặt tên, đến năm 1905, thuật ngữ “hệ thống kiểm tra nội bộ” được Montgomery lần đầu tiên sử dụng với định nghĩa là một hệ thống bao gồm các ghi nhận về kế toán, phương pháp, hệ thống được thiết lập theo cách thức không để bất kỳ phần nghiệp vụ kế toán sẽ chịu phụ thuộc và kiểm soát hoàn toàn bởi một cá nhân nào mà công việc của nhân viên sau sẽ kiểm soát lại phần việc được thực hiện bởi nhân viên trước nhằm đảm bảo sự an toàn cho tất cả các loại tiền của đơn vị (Montgomery, 1912).
Năm 1949, AICPA sử dụng thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” thay thuật ngữ “kiểm tra nội bộ” trong báo cáo “Báo cáo đặc biệt về kiểm soát nội bộ”. Theo đó KSNB được định nghĩa là bao gồm các kế hoạch và sự phối hợp của tổng hòa các phương pháp và đo lường được thực hiện trong đơn vị nhằm bảo vệ tài sản, kiểm tra sự tin cậy và chính xác của dữ liệu kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khuyến khích sự tuân thủ các chính sách quản lý được thiết lập (Heier, Dugan và Sayers, 2005). Qua quá trình hình thành và phát triển, khái niệm KSNB ngày càng được mở rộng và có nhiều quan điểm nhau về KSNB, tuy nhiên chưa có định nghĩa nào về KSNB được chấp nhận rộng rãi trên thế giới. Đến năm 1992, ủy ban COSO được thành lập nhằm thống nhất định nghĩa về KSNB qua việc phát hành báo cáo Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ hợp nhất (báo cáo COSO 1992).
Báo cáo COSO 1992 đã định nghĩa về KSNB là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị (HĐQT), các nhà quản lý và các thành viên khác trong đơn vị, được thiết kế nhằm đảm bảo , 8 hợp lý liên quan đến việc đạt được các loại mục tiêu: hiệu quả và hiệu lực của hoạt động, sự tin cậy của báo cáo tài chính, tuân thủ pháp luật và luật lệ (COSO, 1992). Nhằm vận dụng các lý luận cơ bản của khuôn mẫu KSNB được COSO ban hành năm 1992 vào lĩnh vực NH. Ngày 22/09/1998, ủy ban Basel đã phát hành khuôn mẫu KSNB. Theo đó, báo cáo Basle 1998 đã định nghĩa KSNB là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi HĐQT, các nhà quản lý cao cấp và tất cả nhân viên các cấp của đơn vị.
Mục tiêu chính của quá trình KSNB nhằm có thể đạt được các loại mục tiêu: hiệu quả, báo cáo và tuân thủ. Tại Việt Nam, KSNB được định nghĩa “Kiểm soát nội bộ là việc kiểm tra, giám sát đối với các cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện cơ chế, chính sách, quy định nội bộ, chuẩn mực ĐĐNN, văn hóa kiểm soát nhằm kiểm soát xung đột lợi ích, kiểm soát rủi ro, đảm bảo hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đạt được các mục tiêu đề ra đồng thời tuân thủ quy định của pháp luật. Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ được sử dụng phổ biến trên thế giới Kết quả nghiên cứu cho thấy, các khuôn mẫu về KSNB được sử dụng phổ biến trên thế giới là: COSO, CoCo và Turnbull. Khuôn mẫu về KSNB được sử dụng bởi các nước trên thế giới STT Nước Khuôn mẫu KSNB Ghi chú 1 Pháp AMF (theo khuôn mẫu COSO) AMF (2008) 2 Úc (sau tháng O’Leary, Iselin và COSO 12/2004) Sharma (2006) 3 Anh Turnbull Carey (2001) 4 Đức Tiêu chuẩn IDW (theo khuôn mẫu COSO) 5 Mỹ COSO, CoCo, Turnbull, khuôn mẫu khác 6 Canada COSO, CoCo, Turnbull Brown, Pott và 7 Liên minh Châu Âu COSO, Turnbull Wömpener (2014) 8 Nhật J-SOX (theo khuôn mẫu COSO) 9 Hong Kong COSO, Turnbull 10 Trung Quốc COSO Nguồn: Tác giả tổng hợp 2.
Khuôn mẫu về kiểm soát nội bộ của báo cáo Coco , 9 Báo cáo CoCo được Viện kế toán công chứng Canada ban hành vào năm 1995 với tựa đề “Hướng dẫn về kiểm soát”. Theo báo cáo CoCo, KSNB được định nghĩa là những yếu tố của đơn vị (như nguồn lực, hệ thống, quy trình, văn hóa, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ) được thiết lập nhằm hỗ trợ đơn vị đạt được các mục tiêu: hoạt động đạt hữu hiệu và hiệu quả, báo cáo được lập đáng tin cậy, tuân thủ luật pháp, luật lệ và chính sách nội bộ (International Federation of accountants, 2006) Báo cáo CoCo đề xuất 20 tiêu chuẩn để nhà quản lý vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả của đơn vị và ra quyết định đúng đắn dựa trên bốn tiêu chuẩn lớn là mục đích, cam kết, năng lực, giám sát và học tập (International Federation of Accountants, 2006). Khuôn mẫu về kiểm soát nội bộ của báo cáo Turnbull Năm 1999, Hội đồng báo cáo tài chính (Financial Reporting Council) - một tổ chức độc lập chịu trách nhiệm quảng bá và đảm bảo chất lượng báo cáo doanh nghiệp của Vương quốc Anh đã ban hành báo cáo Turnbull, nhằm hướng dẫn cách thức thiết lập tốt nhất về KSNB cho các công ty niêm yết ở Anh cũng như giúp các công ty tuân thủ những luật lệ được ban hành. Báo cáo Turnbull công nhận tầm quan trọng của việc ĐGRR và đề xuất rằng việc báo cáo về KSNB phải trở thành một bộ phận không thể tách rời trong quy trình quản lý doanh nghiệp.
Đến tháng 10 năm 2005, báo cáo Turnbull được cập nhật phiên bản mới. Xét về nội dung, báo cáo Turnbull có nội dung tương tự báo cáo COSO về định nghĩa và các bộ phận cấu thành KSNB. Báo cáo Turnbull định nghĩa về một hệ thống KSNB bao gồm các chính sách, quy trình, nhiệm vụ, những hành vi và các khía cạnh khác của đơn vị, được thiết lập nhằm đạt được cùng lúc: một là, tạo điều kiện cho hoạt động hữu hiệu và hiệu quả bằng cách cho phép nó đáp ứng một cách hợp lý các hoạt động kinh doanh, tài chính, tuân thủ và các rủi ro khác để đạt được mục tiêu của đơn vị. Điều này bao gồm việc bảo vệ tài sản không bị sử dụng không phù hợp hoặc bị mất mát, gian lận; hai là, giúp đảm bảo chất lượng báo cáo nội bộ và bên ngoài; ba là, giúp đảm bảo , 10 việc tuân thủ luật pháp và luật lệ cũng như các chính sách nội bộ đơn vị.
Hệ thống KSNB bao gồm các thành phần: HĐKS, TTTT, quy trình giám sát liên tục sự hữu hiệu của KSNB (Financial Reporting Council, 2005). Khuôn mẫu về kiểm soát nội bộ của ủy ban COSO Qua quá trình hình thành và phát triển, khái niệm KSNB ngày càng được mở rộng và có nhiều quan điểm nhau về KSNB, tuy nhiên chưa có định nghĩa nào về KSNB được chấp nhận rộng rãi trên thế giới. Đến năm 1992, ủy ban COSO, một ủy ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên báo cáo tài chính, thường gọi là ủy ban Treadway, được thành lập nhằm thống nhất định nghĩa về KSNB qua việc phát hành báo cáo Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ hợp nhất (báo cáo COSO 1992). Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống.
Sau 21 năm kể từ khi ủy ban COSO ban hành báo cáo COSO 1992, môi trường kinh doanh đã có những thay đổi đáng kể. Do vậy, vào năm 2013, ủy ban COSO đã đưa ra báo cáo mới với tựa đề “Kiểm soát nội bộ - khuôn mẫu hợp nhất” (báo cáo COSO 2013) Khái niệm về kiểm soát nội bộ Theo báo cáo COSO 2013, KSNB được định nghĩa là quá trình chịu ảnh hưởng của HĐQT, Ban lãnh đạo và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập nhằm cung cấp sự bảo đảm hợp lý cho việc đạt được các mục tiêu liên quan đến hoạt động, báo cáo và tuân thủ. Các bộ phận cấu thành kiểm soát nội bộ Theo báo cáo COSO 2013, KSNB bao gồm các bộ phận sau: Môi trường kiểm soát MTKS là tập hợp các tiêu chuẩn, quy trình, cơ cấu cung cấp cơ sở để thực hiện KSNB trong toàn đơn vị. MTKS có ảnh hưởng sâu rộng đối với toàn bộ hệ thống KSNB MTKS được đánh giá là tốt nếu các nguyên tắc sau đây được đảm bảo: Nguyên tắc 1: Đơn vị chứng tỏ cam kết về tính chính trực và giá trị đạo đức , 11 Nguyên tắc 2: HĐQT chứng tỏ việc độc lập với BQL và giám sát việc xây dựng, thực hiện biện pháp KSNB Nguyên tắc 3: BQL thiết lập cơ cấu, quy trình báo cáo và quyền hạn, trách nhiệm phù hợp trong khi theo đuổi mục tiêu dưới sự giám sát của HĐQT Nguyên tắc 4: Đơn vị chứng tỏ cam kết đối với việc thu hút, phát triển, và giữ chân những người có năng lực phù hợp với mục tiêu Nguyên tắc 5: Đơn vị yêu cầu cá nhân chịu trách nhiệm KSNB của mình khi theo đuổi mục tiêu Đánh giá rủi ro Mọi đơn vị đều phải đối mặt với một loạt các rủi ro từ bên trong và bên ngoài.
Rủi ro được xác định là khả năng một sự kiện sẽ diễn ra và ảnh hưởng xấu đến việc đạt mục tiêu. Hoạt động ĐGRR của đơn vị được đánh giá là tốt nếu các nguyên tắc sau đây được đảm bảo: Nguyên tắc 6: Đơn vị xác định mục tiêu đủ rõ ràng để cho phép xác định, đánh giá rủi ro liên quan đến mục tiêu Nguyên tắc 7: Đơn vị xác định rủi ro đối với việc đạt được mục tiêu trong toàn đơn vị và phân tích rủi ro làm cơ sở để xác định cách QLRR Nguyên tắc 8: Đơn vị xem xét khả năng xảy ra gian lận khi ĐGRR đối với việc đạt được mục tiêu Nguyên tắc 9: Đơn vị xác định và đánh giá thay đổi có thể tác động đáng kể đến hệ thống KSNB Hoạt động kiểm soát HĐKS là hành động được thiết lập thông qua chính sách, quy trình giúp bảo đảm chỉ thị giảm nhẹ rủi ro đối với việc đạt được mục tiêu của BQL được thực hiện.