Luận án tiến sĩ: Lưu hành cúm gia cầm và hiệu quả vắc-xin Navet-Fluvac 2 tại TP.HCM

Luận án nghiên cứu đánh giá tình hình lưu hành vi rút cúm gia cầm clade 2.3.2.1 tại khu vực lân cận TP.HCM và hiệu quả bảo hộ của vắc xin Navet Fluvac 2.

2021

185
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vi rút cúm gia cầm và vắc xin Navet Fluvac 2

Vi-rút cúm gia cầm thuộc họ Orthomyxoviridae là tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gia cầm và có khả năng lây sang người. Tại Việt Nam, các chủng vi-rút cúm A/H5N1 lưu hành chủ yếu thuộc các clade 1, 2.1 và 2.3.2.1. Vắc-xin Navet-Fluvac 2 là sản phẩm do Navetco nghiên cứu và sản xuất trong nước, chứa các chủng vi-rút thuộc clade 2.1c. Vắc-xin này đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá hiệu quả phòng bệnh từ năm 2013 đến 2018. Nghiên cứu tập trung vào việc giám sát lưu hành vi-rút tại khu vực lân cận Thành phố Hồ Chí Minh và đánh giá khả năng bảo hộ của vắc-xin. Protein HA và NA là hai kháng nguyên bề mặt quan trọng, đóng vai trò chính trong cơ chế bảo hộ miễn dịch. Protein NS1 cũng là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tính sinh học của vi-rút.

1.1. Đặc điểm cấu trúc vi rút cúm A H5N1

Vi-rút cúm A/H5N1 có bộ gien gồm 8 phân đoạn RNA, mã hóa cho 11 protein. Protein HA quyết định tính lây nhiễm và là đích chính của kháng thể bảo hộ. Protein NA giúp giải phóng hạt vi-rút khỏi tế bào nhiễm, đẩy nhanh sự lây lan. Protein NS1 đóng vai trò trong việc ức chế hệ miễn dịch của vật chủ. Các protein này là cơ sở để sản xuất vắc-xin và thuốc kháng vi-rút hiện nay.

1.2. Lịch sử phát triển vắc xin cúm gia cầm tại Việt Nam

Việt Nam bắt đầu nghiên cứu sản xuất vắc-xin cúm gia cầm từ năm 2005. Vắc-xin Navet-Fluvac 2 được Navetco phát triển dựa trên các chủng vi-rút thực địa. Giai đoạn 2007-2010, vắc-xin tái tổ hợp Re-5 từ Trung Quốc được nhập khẩu để phòng bệnh. Các nghiên cứu đánh giá cho thấy hiệu quả bảo hộ khác nhau tùy thuộc vào clade vi-rút lưu hành. Việc sản xuất vắc-xin trong nước giúp chủ động nguồn cung và phù hợp với chủng vi-rút lưu hành tại Việt Nam.

II. Phân tích tình hình lưu hành vi rút cúm gia cầm khu vực TP

Nghiên cứu thu thập 2.880 mẫu xét nghiệm tại cơ sở giết mổ trên đàn gia cầm từ 8 tỉnh gồm Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, 1.800 mẫu được thu thập trên đàn gia cầm khỏe mạnh tại 5 huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ. Kết quả không phát hiện trường hợp dương tính vi-rút cúm A/H5N1 trên đàn gia cầm khỏe mạnh. Tuy nhiên, 51 trong số 63 mẫu từ các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh cho kết quả dương tính. Dấu hiệu lâm sàng phổ biến trên gà, vịt mắc bệnh gồm ủ rũ, bỏ ăn, phù đầu, thở khò khè, liệt chân. Bệnh tích điển hình bao gồm xuất huyết não, phổi, lớp mỡ vành tim, gan và lách sưng xuất huyết.

2.1. Kết quả giám sát vi rút trên đàn gia cầm khỏe mạnh

Khảo sát 1.800 mẫu xét nghiệm thu thập trên đàn gia cầm khỏe mạnh tại 5 huyện ngoại thành TP.HCM không phát hiện trường hợp dương tính vi-rút cúm A/H5N1. Kết quả 2.880 mẫu tại cơ sở giết mổ từ 8 tỉnh lân cận cũng âm tính. Điều này cho thấy công tác tiêm phòng và kiểm soát dịch bệnh đang phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, nguy cơ bùng phát dịch vẫn tồn tại do vi-rút liên tục biến đổi gen.

2.2. Đặc điểm lâm sàng và bệnh tích trên gia cầm nhiễm bệnh

Dấu hiệu lâm sàng phổ biến trên gà, vịt mắc bệnh cúm A/H5N1 gồm ủ rũ, bỏ ăn, phù đầu, thở khò khè, liệt chân, sả cánh, phân trắng xanh. Dấu hiệu thần kinh trên vịt là điển hình, bao gồm xoay vòng và co giật. Bệnh tích điển hình gồm não, phổi xuất huyết, xuất huyết lớp mỡ vành tim, gan và lách sưng. Da chân xuất huyết trên gà là bệnh tích đặc trưng của cúm gia cầm.

III. Đánh giá khả năng bảo hộ của vắc xin Navet Fluvac 2

Kết quả phân tích di truyền 26 chủng vi-rút cúm A/H5N1 được chọn ngẫu nhiên trong giai đoạn 2013-2015 ghi nhận 22 chủng thuộc clade 2.1c, 3 chủng thuộc clade 1.2 và 1 chủng thuộc clade 2. Các chủng thực địa thuộc clade 2.1c có sự tương đồng trình tự nucleotide rất cao với chủng công cường độc trong vắc-xin Navet-Fluvac 2, đạt 96,1-99,1%. Tỷ lệ tương đồng với chủng A/reassortant/USCDC_RG30 là 95,0-96% và với chủng A/reassortant/NIBRG-14 là 91,3-92,2%. Các chủng thuộc clade 1.2 chỉ tương đồng ở mức 89%. Vắc-xin Navet-Fluvac 2 cho hiệu quả bảo hộ tốt với các chủng thuộc clade 2.1c nhưng hiệu quả giảm với clade 1.2 và clade 2. Kết quả thử nghiệm công cường độc trên gà cho thấy tỷ lệ bảo hộ đạt trên 80% sau tiêm đủ hai mũi.

3.1. Kết quả phân tích di truyền các chủng vi rút lưu hành

Phân tích di truyền 26 chủng vi-rút thực địa cho thấy sự đa dạng về clade. Clade 2.1c chiếm ưu thế với 22/26 chủng, tương đồng cao với chủng vắc-xin. Clade 1.2 với 3 chủng có tỷ lệ tương đồng thấp hơn. Sự biến đổi liên tục của vi-rút đòi hỏi phải cập nhật thành phần vắc-xin thường xuyên. Việc giám sát di truyền là yếu tố then chốt trong chiến lược phòng chống dịch.

3.2. So sánh hiệu quả các loại vắc xin cúm gia cầm hiện có

Vắc-xin Re-1 bảo hộ 80% gà chống lại clade 1 và 100% với clade 2.4. Vắc-xin Re-5 bảo hộ 90% với clade 1 và 2.4, nhưng chỉ 70% với clade 2.1a. Vắc-xin Re-6 bảo hộ 70% chống lại clade 1. Vắc-xin Navet-Fluvac 2 cho hiệu quả cao với clade 2.1c. Việc lựa chọn vắc-xin phù hợp với chủng vi-rút lưu hành là yếu tố quyết định hiệu quả phòng bệnh.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn trong chăn nuôi

Nghiên cứu xác nhận vi-rút cúm A/H5N1 clade 2.1c là chủng lưu hành chủ yếu tại khu vực lân cận Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2013-2015. Vắc-xin Navet-Fluvac 2 có khả năng bảo hộ tốt đối với các chủng vi-rút thuộc clade 2.1c nhờ sự tương đồng di truyền cao. Tuy nhiên, hiệu quả bảo hộ giảm đối với các clade khác như 1.2 và 2. Công tác giám sát liên tục và cập nhật thành phần vắc-xin là cần thiết. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng vắc-xin Navet-Fluvac 2 trong chương trình tiêm phòng quốc gia. Các hộ chăn nuôi cần tuân thủ lịch tiêm phòng đầy đủ hai mũi để đạt hiệu quả bảo hộ tối ưu. Việc kết hợp tiêm phòng với giám sát dịch tễ giúp kiểm soát hiệu quả dịch cúm gia cầm.

4.1. Ứng dụng trong chương trình tiêm phòng quốc gia

Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa vắc-xin Navet-Fluvac 2 vào chương trình tiêm phòng cúm gia cầm quốc gia. Vắc-xin phù hợp với chủng vi-rút lưu hành tại Việt Nam, đặc biệt là clade 2.1c. Việc sản xuất trong nước giúp chủ động nguồn cung và giảm chi phí. Chương trình tiêm phòng cần được triển khai đồng bộ trên toàn quốc.

4.2. Khuyến cáo cho người chăn nuôi

Người chăn nuôi cần tiêm phòng vắc-xin Navet-Fluvac 2 đầy đủ hai mũi theo khuyến cáo. Thời gian tiêm mũi đầu từ 2 tuần tuổi, mũi nhắc lại sau 3-4 tuần. Kết hợp tiêm phòng với vệ sinh chuồng trại và giám sát dịch tễ. Báo cáo ngay cho cơ quan thú y khi phát hiện gia cầm có dấu hiệu bệnh. Tuân thủ các biện pháp an toàn sinh học để ngăn ngừa lây nhiễm.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ đánh giá tình hình lưu hành vi rút cúm gia cầm tại khu vực lân cận thành phố hồ chí minh và khả năng bảo hộ của vắc xin navet fluvac 2 đối với vi rút cúm gia cầm clade 2 3 2 1