Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế học của tác giả Hồ Hải Yến với đề tài "Các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu lại hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam" được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Tô Trung Thành (chuyên ngành Kinh tế học, mã số: 9310101_KTH, năm 2022).
Về tính cấp thiết, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò chủ đạo trong việc cung ứng vốn và điều tiết tài chính cho nền kinh tế. Sự yếu kém của hệ thống NHTM có thể nhanh chóng lan tỏa sang toàn bộ hệ thống tài chính và nền kinh tế, dẫn đến nguy cơ suy giảm thanh khoản và tín dụng (Monero, 2011; Casu và cộng sự, 2015). Nhằm kiểm soát rủi ro và bảo vệ người gửi tiền, Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel (BCBS) đã ban hành các chuẩn mực về tỷ lệ an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio - CAR). Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/8/1999 lần đầu tiên điều chỉnh CAR. Trước năm 2010, hệ số CAR toàn hệ thống có xu hướng giảm, nhiều ngân hàng không đảm bảo tỷ lệ tối thiểu 8% do năng lực yếu kém từ các NHTM nông thôn chuyển đổi lên đô thị, tài sản rủi ro cao, hệ số chuyển đổi rủi ro chưa phản ánh đúng thực tế, cùng với các chính sách kích cầu và nới lỏng tiền tệ làm tăng trưởng dư nợ và tài sản rủi ro.
Trước thực trạng đó, Chính phủ đã phê duyệt hai đề án tái cơ cấu hệ thống NHTM:
- Quyết định số 254/QĐ-TTg năm 2012 (giai đoạn 2011–2015) tập trung xử lý các NHTM yếu kém, nâng cao năng lực vốn tự có và quy mô vốn điều lệ, từng bước tiệm cận chuẩn mực Basel I.
- Quyết định số 1058/QĐ-TTg năm 2017 (giai đoạn 2016–2020) tập trung đẩy mạnh trích lập dự phòng, xử lý nợ xấu, hỗ trợ CAR tiệm cận chuẩn mực Basel II.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trước đây được tiến hành ở các quốc gia phát triển nơi thị trường tự do điều tiết; tại Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu có dữ liệu dừng lại ở năm 2018 nên chưa phản ánh giai đoạn áp dụng Thông tư 41/2016/TT-NHNN sau năm 2018. Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam chưa xem xét CAR đồng thời trong bối cảnh hai giai đoạn tái cơ cấu, chủ yếu tập trung vào rủi ro tín dụng mà chưa bao quát các yếu tố đại diện cho rủi ro thị trường (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn), rủi ro hoạt động và tác động của hoạt động mua bán sáp nhập (M&A).
Mục tiêu nghiên cứu: Đo lường tác động của các yếu tố vĩ mô và vi mô đến CAR của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống NHTM, từ đó đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm đáp ứng chuẩn mực Basel II hiện tại và Basel III trong tương lai.
Luận án cụ thể hóa thành 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Tỷ lệ an toàn vốn là gì? Cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm nào về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn (CAR) (gồm các yếu tố vĩ mô và các biến số đặc trưng cho NHTM)?
- Thực trạng của CAR và các yếu tố ảnh hưởng đến CAR trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống NHTM tại Việt Nam như thế nào?
- Các yếu tố tác động đến CAR như thế nào và sự tác động đó thay đổi như thế nào trong bối cảnh tái cơ cấu lại hệ thống NHTM?
- Các giải pháp, khuyến nghị như thế nào đối với các NHTM Việt Nam và các cơ quan quản lý để CAR của các ngân hàng đáp ứng chuẩn mực quốc tế?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: CAR và các yếu tố tác động đến CAR tại các NHTM trong hệ thống NHTM Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Các yếu tố kinh tế vĩ mô và các biến số vi mô nội tại ngân hàng trong mối liên hệ với các đề án tái cơ cấu.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2006–2020, bao gồm giai đoạn tiền tái cơ cấu và ban hành Thông tư 13/2010/TT-NHNN (2006–2010), giai đoạn tái cơ cấu 1 theo Quyết định 254/QĐ-TTg (2011–2015), giai đoạn tái cơ cấu 2 theo Quyết định 1058/QĐ-TTg (2016–2020), giai đoạn thực thi Thông tư 41/2016/TT-NHNN (2018–2020) và tác động của đại dịch Covid-19 (2019–2020).
- Phạm vi không gian: 35 NHTM Việt Nam đang hoạt động đến thời điểm tháng 12/2020 (gồm 4 NHTM Nhà nước và 31 NHTM cổ phần). Luận án không bao gồm các ngân hàng nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài do hạn chế công bố thông tin hoặc áp dụng chuẩn mực Basel III. Đối với các ngân hàng sáp nhập, nghiên cứu chỉ tính toán dữ liệu của các ngân hàng nhận sáp nhập còn tồn tại đến cuối năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn:
Về nhóm yếu tố kinh tế vĩ mô:
- Tăng trưởng kinh tế (GDP): Ruckes (2004) cho rằng chất lượng tín dụng giảm trong thời kỳ kinh tế thuận lợi do ngân hàng nới lỏng thẩm định, làm tăng tài sản rủi ro và giảm CAR. Babihuga (2007) và Aktas và cộng sự (2012) chỉ ra trong thời kỳ tăng trưởng cao, ngân hàng giảm CAR để tận dụng cơ hội đầu tư, trong khi Wong và cộng sự (2005) nhận định suy thoái kinh tế thúc đẩy trích lập dự phòng và tăng CAR. Các nghiên cứu của Harly (2011), Siti Norbaya Yahaya và cộng sự (2016), Juca và cộng sự (2012), Abhay Pant và Ganesh Kumar Nidugala (2017) đều xác nhận mối quan hệ nghịch chiều giữa tăng trưởng GDP và CAR. Mehdi Mili và cộng sự (2014) ghi nhận tăng trưởng GDP nước sở tại tác động thuận chiều tới CAR của ngân hàng con 100% vốn nước ngoài. Tại Việt Nam, Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016) không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa tăng trưởng GDP và CAR, trong khi Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019) xác định mối quan hệ nghịch chiều.
- Lạm phát: Ajayi (2008) chỉ ra lạm phát cao làm giảm hiệu quả hoạt động và xói mòn vốn tự có. Mối quan hệ nghịch chiều giữa lạm phát và CAR được chứng minh bởi Babihuga (2007), Siti Norbaya Yahaya và cộng sự (2016), Abhay Pant và Ganesh Kumar Nidugala (2017), Harly Tega (2011), Shaddady và Moore (2015), Aktas và cộng sự (2015). Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016) cũng khẳng định lạm phát tác động nghịch chiều đến CAR.
- Lãi suất thực: Demirguc-Kunt và Detragiache (1998) cùng Harly Tega (2011) lập luận lãi suất tăng làm tăng chi phí vốn và khả năng mất thanh khoản của bên đi vay, khiến tài sản rủi ro tăng và CAR sụt giảm. Ogege và cộng sự (2012), Shaddady và Moore (2015), Mehdi Mili và cộng sự (2014) đều tìm thấy tác động nghịch chiều có ý nghĩa thống kê. Tại Việt Nam, Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016) chứng minh lãi suất có quan hệ nghịch chiều với CAR khi kết hợp trong mô hình chứa cả biến vi mô và vĩ mô; Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019) cũng chỉ ra tác động nghịch chiều.
Về nhóm yếu tố đặc trưng ngân hàng (vi mô):
- Quy mô tài sản (Size): STOT (Myers, 1977; Aktas và cộng sự, 2012) cho thấy ngân hàng lớn tiếp cận thị trường vốn dễ dàng với chi phí thấp hơn nên duy trì CAR thấp hơn. Wong và cộng sự (2008), Demsetz và Strahan (1997), Reynolds và cộng sự (2000), Ayuso và cộng sự (2002), Mehdi Mili và cộng sự (2014) tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều. Ngược lại, Gropp và Heider (2007, 2009), Juca và cộng sự (2012), Octavia và Brown (2008), Siti Norbaya Yahaya và cộng sự (2016) nhận thấy ngân hàng quy mô lớn có CAR cao hơn. Tại Việt Nam, tác động nghịch chiều được xác nhận bởi Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016), Võ Hồng Đức và cộng sự (2014); Lê Thanh Ngọc và cộng sự (2015) ghi nhận tác động thuận chiều; trong khi Phạm Xuân Thoa cùng cộng sự (2017), Trần Đức Minh và Lữ Phi Nga (2018) không tìm thấy ý nghĩa thống kê.
- Tỷ lệ tiền gửi (Deposits): Dựa trên nguyên tắc kỷ luật thị trường (Berger, 1991; Alfon và cộng sự, 2004; Nier và Baumann, 2002). Kleff và Weiber (2008) chỉ ra tỷ lệ tiền gửi tác động thuận chiều tới CAR của nhóm ngân hàng hợp tác và tiết kiệm, nhưng tác động nghịch chiều ở các ngân hàng chuyên biệt. Asarkaya và Ozcan (2007) ghi nhận tác động nghịch chiều. Tại Việt Nam, Võ Hồng Đức và cộng sự (2014), Lê Thanh Ngọc và cộng sự (2015), Trần Đức Minh và Lữ Phi Nga (2018) chỉ ra tác động nghịch chiều, còn Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019) ghi nhận quan hệ thuận chiều.
- Tỷ lệ cho vay (Loans): Hassan và Bashir (2003), Admet và Hasan (2011), Mehdi Mili và cộng sự (2014) lập luận cho vay làm tăng tài sản rủi ro buộc ngân hàng phải dự phòng vốn tăng CAR. Mpuga (2002) tìm thấy quan hệ thuận chiều, trong khi Siti Norbaya Yahaya và cộng sự (2016) tìm thấy quan hệ nghịch chiều giữa tổng cho vay và CAR. Tại Việt Nam, Võ Hồng Đức và cộng sự (2014), Trần Đức Minh và Lữ Phi Nga (2018), Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019) không tìm thấy quan hệ có ý nghĩa; Phạm Thị Xuân Thoa và Nguyễn Ngọc Anh (2017) ghi nhận quan hệ nghịch chiều.
- Khả năng sinh lời (ROA, ROE): Dựa trên Pecking Order Theory (POH - Myers và Majluf, 1984) và chi phí cơ hội giữ vốn (Asarkaya và Ozcan, 2007; Wong và cộng sự, 2008). Gropp và Heider (2009), Brown và cộng sự (2010), Mohammed T và cộng sự (2013) ghi nhận quan hệ thuận chiều. Admet và Hasan (2011) nhận thấy ROA thuận chiều nhưng ROE nghịch chiều tại Thổ Nhĩ Kỳ; Siti Norbaya Yahaya và cộng sự (2016) ghi nhận kết quả ngược lại ở Nhật Bản. Tại Việt Nam, Nguyễn Minh Vương và Đỗ Thành Trung (2014) chỉ ra ROE tác động nghịch chiều; Binh Dao Thanh (2015) xác định ROE thuận chiều và ROA nghịch chiều; Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016) không tìm thấy quan hệ có ý nghĩa giữa ROE và CAR.
- CAR trễ: Phản ánh chi phí điều chỉnh vốn và mục tiêu phát triển dài hạn (Alfon và cộng sự, 2004; Cornett và Tehranian, 1994). Tác động thuận chiều được ủng hộ bởi Babihuga (2007), Kleff và Weiber (2008), Wong và cộng sự (2008), Abhay Pant và Ganesh Kumar Nidugala (2017). Tại Việt Nam, Lê Thanh Ngọc và cộng sự (2015) xác nhận tác động thuận chiều, còn Trần Thị Lan Anh (2019) ghi nhận không có ý nghĩa thống kê.
- Đòn bẩy và dự phòng rủi ro tín dụng (LLR): Rime (2001), Ahmad và cộng sự (2008), Shingjergji và Hyseni (2015), Aktas và cộng sự (2015), Shaddady và Moore (2015) phân tích các góc độ đòn bẩy. Về LLR, Kleff và Weiber (2008), Shrieves và Dahl (2003), Admet và Hasan (2011), Mehdi Mili và cộng sự (2014) kiểm nghiệm mối liên hệ với CAR. Tại Việt Nam, Võ Hồng Đức và cộng sự (2014) xác định LLR tác động thuận chiều, trong khi Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016), Phạm Thị Xuân Thoa và Nguyễn Ngọc Anh (2017) kết luận nghịch chiều.
- Đầu tư chứng khoán: Phản ánh rủi ro thị trường theo nguyên tắc thị trường (Dia và Giuliodori, 2012; Wu và Bowe, 2010; Allen và cộng sự, 2011; BIS, 2019).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Bổ sung bằng chứng thực nghiệm giai đoạn 2006–2020; đưa biến đại diện cho hai giai đoạn tái cơ cấu theo Quyết định 254/QĐ-TTg và 1058/QĐ-TTg vào mô hình; bổ sung các biến rủi ro thị trường (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, chứng khoán dài hạn) và biến M&A ngân hàng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
Luận án dựa trên cơ sở pháp lý và lý thuyết tài chính - ngân hàng:
- Khái niệm NHTM: Theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010, NHTM là loại hình ngân hàng thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng (nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản) và hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.
- Các lý thuyết nền tảng: Thuyết đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh (STOT - Myers, 1977); Thuyết trật tự phân hạng (POH - Myers và Majluf, 1984); Nguyên tắc kỷ luật thị trường (Market Discipline); Lý thuyết chi phí điều chỉnh vốn.
- Khung chuẩn mực an toàn vốn Basel:
- Basel I (1988, sửa đổi 1991, 1995, 1996): Quy định CAR tối thiểu 8%. Vốn gồm Vốn cấp 1 (vốn nòng cốt), Vốn cấp 2 (vốn bổ sung), Vốn cấp 3 (cho rủi ro thị trường). Tài sản tính theo rủi ro gia quyền (RWA) tính trên bảng cân đối nội bảng và ngoại bảng theo các mức 0%, 20%, 50%, 100%.
| Mức rủi ro |
Tài sản nội bảng |
Hạng mục ngoại bảng |
| 0% |
Tiền mặt, trái phiếu chính phủ, tín phiếu NHNN, cho vay ủy thác chính phủ không chịu rủi ro. |
Cam kết có thời hạn ban đầu dưới 1 năm. |
| 20% |
Cho vay bảo đảm bằng tín phiếu TCTD đó, bảo đảm bởi ngân hàng phát triển đa phương (ADB...), bảo đảm bởi ngân hàng thành viên OECD. |
Cam kết ngắn hạn thương mại thanh khoản cao (L/C bảo đảm bằng hàng hóa). |
| 50% |
Cho vay bảo đảm bằng tài sản thế chấp nhà ở thuộc sở hữu của người nhận nợ. |
Cam kết/bảo lãnh giao dịch (bảo lãnh hợp đồng), cam kết ban đầu trên 1 năm. |
| 100% |
Cho vay khu vực tư nhân, tài sản cố định, trang thiết bị, bất động sản, công cụ tài chính khác. |
Cam kết thay thế vay trực tiếp (bảo lãnh vay), hợp đồng mua bán kỳ hạn. |
- Basel II (2004): Giữ tỷ lệ CAR tối thiểu 8%, mở rộng cấu trúc gồm 3 trụ cột:
- Trụ cột 1: Đo lường rủi ro tín dụng (Phương pháp chuẩn Standardized Method, Phương pháp xếp hạng nội bộ IRB gồm Basic IRB và Advanced IRB tính toán PD, LGD, EAD); rủi ro thị trường; rủi ro hoạt động (Basic Indicator Approach, Advanced Measurement Approach).
- Trụ cột 2: Quy trình đánh giá tính đầy đủ vốn nội bộ (ICAAP) và giám sát của cơ quan quản lý.
- Trụ cột 3: Kỷ luật thị trường và minh bạch hóa thông tin.
- Basel III (2010): Nâng cao chất lượng vốn, duy trì CAR tối thiểu 8% nhưng yêu cầu vốn cấp 1 tối thiểu 6%, vốn cổ phần phổ thông (CET1) tối thiểu 4.5%; bổ sung Vốn đệm bảo toàn (Conservation Buffer) 2.5%, Vốn đệm chống chu kỳ (Countercyclical Buffer) 0–2.5%; bổ sung Tỷ lệ đòn bẩy (Leverage Ratio) >= 3%; chỉ số thanh khoản LCR và NSFR.
| Chỉ tiêu vốn |
Basel II (%) |
Basel III (%) |
| Vốn cổ phần phổ thông tối thiểu (CET1) |
2,0 |
4,5 |
| Vốn đệm dự phòng (Conservation Buffer) |
- |
2,5 |
| Tổng vốn CET1 và đệm dự phòng |
- |
7,0 |
| Vốn cấp 1 tối thiểu |
4,0 |
6,0 |
| Vốn cấp 1 và đệm dự phòng |
- |
8,5 |
| Tổng vốn bắt buộc tối thiểu |
8,0 |
8,0 |
| Tổng vốn bắt buộc và đệm dự phòng |
- |
10,5 |
| Vốn dự phòng chống hiệu ứng chu kỳ |
- |
0 - 2,5 |
Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu thực nghiệm
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Tổng hợp, đánh giá lý luận và thực nghiệm để xây dựng mô hình và giả thuyết.
- Phương pháp phân tích thống kê mô tả: Phân tích thực trạng kinh tế vĩ mô, hệ thống NHTM và các biến số tài chính.
- Phương pháp mô hình hóa kinh tế lượng: Luận án sử dụng dữ liệu mảng (Panel Data) gồm 35 NHTM Việt Nam qua 15 năm (2006–2020).
- Quy trình ước lượng ban đầu: Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
- Kiểm định khuyết tật mô hình: Kiểm định đa cộng tuyến (ma trận hệ số tương quan và VIF), kiểm định phương sai sai số thay đổi, kiểm định tự tương quan và kiểm định biến nội sinh.
- Xử lý khuyết tật mô hình: Do mô hình có hiện tượng nội sinh (từ CAR trễ và các biến tài chính), tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, luận án áp dụng phương pháp Moment tổng quát hệ thống hai bước (Two-step System GMM - S-GMM), phương pháp GMM sai phân (D-GMM) và Long-run GMM.
Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu CAR: Thu thập từ báo cáo tự tính toán và công bố của 35 NHTM Việt Nam. Các giai đoạn áp dụng quy định pháp lý tương ứng: Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN (2006–2010), Thông tư số 13/2010/TT-NHNN (2010–2014), Thông tư số 36/2014/TT-NHNN (2014–2018) và Thông tư số 41/2016/TT-NHNN (2018–2020).
- Dữ liệu đặc trưng ngân hàng: Thu thập và tính toán từ báo cáo tài chính kiểm toán của 35 NHTM giai đoạn 2006–2020.
- Dữ liệu vĩ mô: Số liệu thứ cấp thu thập từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), bao gồm tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và lãi suất thực.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm căn bản về ngân hàng thương mại, cấu trúc sở hữu (NHTM Nhà nước sở hữu trên 65% vốn biểu quyết, NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, NHTM 100% vốn nước ngoài), và 4 nghiệp vụ kinh doanh cơ bản. Chương này phân tích chuyên sâu lịch sử hình thành, công thức tính toán và sự phát triển của chuẩn mực an toàn vốn từ Basel I, Basel II đến Basel III, đồng thời phân định rõ vai trò của CAR trong việc nâng cao sức chịu đựng tổn thất, định hướng cơ cấu tài sản, bảo vệ người gửi tiền và bảo đảm tính bền vững của toàn hệ thống. Tiếp đó, tác giả tổng quan toàn diện các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về ảnh hưởng của các biến số vĩ mô (GDP, lạm phát, lãi suất) và các biến số đặc thù ngân hàng (quy mô, tiền gửi, dư nợ cho vay, khả năng sinh lời ROA/ROE, đòn bẩy, dự phòng rủi ro tín dụng LLR, CAR trễ, tài sản đầu tư chứng khoán). Cuối chương, tác giả xác lập các khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết.
Chương 2: Thực trạng tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam và các yếu tố tác động tới tỷ lệ an toàn vốn
Chương 2 phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2006–2020 (tăng trưởng GDP, lạm phát biến động, lãi suất thực, cán cân thương mại và xuất nhập khẩu) và cấu trúc hệ thống NHTM (quy mô tổng tài sản so với GDP, thị phần huy động vốn và tín dụng, khả năng sinh lời ROA/ROE, hệ số đòn bẩy, cơ cấu dư nợ và nợ xấu, cấu trúc sở hữu chéo giữa các NHTM và tập đoàn kinh tế). Thực trạng CAR của hệ thống ngân hàng được đánh giá qua từng giai đoạn điều chỉnh chính sách của NHNN:
- Giai đoạn 2006–2010: Áp dụng Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, thị trường chứng kiến sự chuyển đổi ồ ạt từ NHTMCP nông thôn lên đô thị và thành lập NHTMCP mới; vốn điều lệ bắt buộc tăng lên 3.000 tỷ đồng; tăng trưởng tín dụng nóng dẫn đến suy giảm CAR.
- Giai đoạn 2011–2015: Triển khai Đề án 254/QĐ-TTg, sắp xếp và sáp nhập các NHTMCP yếu kém, áp dụng Thông tư 13/2010/TT-NHNN và Thông tư 36/2014/TT-NHNN giúp nâng cao vốn điều lệ, vốn tự có và kiểm soát tài sản rủi ro.
- Giai đoạn 2016–2020: Triển khai Đề án 1058/QĐ-TTg, đẩy mạnh xử lý nợ xấu, ban hành Thông tư 41/2016/TT-NHNN áp dụng chuẩn Basel II thí điểm tại 10 NHTM; hệ thống đối mặt với ảnh hưởng từ suy giảm kinh tế do dịch bệnh Covid-19 trong giai đoạn 2019–2020. Chương 2 lập bảng so sánh chi tiết phương pháp tính CAR giữa Thông tư 36 và Thông tư 41, đồng thời so sánh quy định của Việt Nam với các chuẩn mực Basel III.
Chương 3: Kết quả thực nghiệm các yếu tố tác động đến CAR trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng thương mại
Chương 3 xây dựng khung phân tích, thiết lập mô hình kinh tế lượng, giải thích các biến số và kỳ vọng dấu của các giả thuyết nghiên cứu. Mô hình hồi quy phân tích tác động của các biến vĩ mô (GDP, lạm phát, lãi suất) và các biến đặc thù ngân hàng (SIZE, DEPOSIT, LOAN, ROA, ROE, LLR, LEVERAGE, CAR trễ, đầu tư chứng khoán ngắn hạn và dài hạn), đồng thời kết hợp các biến giả đại diện cho hai giai đoạn tái cơ cấu (QĐ 254 và QĐ 1058) và biến M&A. Tác giả thực hiện thống kê mô tả mẫu nghiên cứu của 35 NHTM, lập ma trận tương quan và kiểm định đa cộng tuyến (VIF). Sau khi phát hiện các khuyết tật của ước lượng OLS, FEM và REM, tác giả áp dụng phương pháp S-GMM hai bước và Long-run GMM để ước lượng hệ số của mô hình. Kết quả ước lượng chỉ ra chiều hướng, mức độ tác động và ý nghĩa thống kê của từng biến số đến CAR, đồng thời luận giải rõ nét sự thay đổi tác động của các biến số này trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.
Chương 4: Một số giải pháp và khuyến nghị để cải thiện tỷ lệ an toàn vốn
Dựa trên kết quả thực nghiệm tại Chương 3 và định hướng quản lý an toàn vốn tiệm cận chuẩn Basel III, Chương 4 đưa ra các nhóm giải pháp toàn diện:
- Nhóm giải pháp dành cho các NHTM: Tăng vốn tự có (tăng vốn cấp 1 từ lợi nhuận giữ lại, phát hành cổ phiếu, thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, phát hành trái phiếu chuyển đổi bổ sung vốn cấp 2); xử lý nợ xấu triệt để; nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu tài sản có hệ số rủi ro cao; cải thiện khả năng sinh lời và đa dạng hóa nguồn thu phi tín dụng; hoàn thiện quy trình kiểm toán nội bộ, quản trị rủi ro và thực hiện ICAAP theo Pillar 2 của Basel II.
- Khuyến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý an toàn vốn tiệm cận Basel III; nâng cao hiệu lực thanh tra giám sát ngân hàng; hỗ trợ tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính các ngân hàng sáp nhập.
- Khuyến nghị đối với Chính phủ: Ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, nâng giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các NHTM nhằm thúc đẩy tăng vốn.
- Trình bày những hạn chế của luận án và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án nêu rõ 5 đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Mở rộng khung phân tích thực nghiệm: Bổ sung bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố tác động đến CAR tại Việt Nam trên chuỗi dữ liệu 15 năm (2006–2020), dài hơn các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam.
- Đánh giá tác động của các đề án tái cơ cấu: Đưa các biến số đại diện cho hai giai đoạn tái cơ cấu hệ thống ngân hàng theo Quyết định 254/QĐ-TTg (2011–2015) và Quyết định 1058/QĐ-TTg (2016–2020) vào mô hình thực nghiệm để lượng hóa tác động trực tiếp của chính sách tái cơ cấu lên hệ số CAR.
- Bổ sung yếu tố rủi ro thị trường: Bổ sung các biến thuộc về danh mục đầu tư của ngân hàng gồm Đầu tư chứng khoán ngắn hạn và Đầu tư chứng khoán dài hạn đại diện cho rủi ro thị trường, giúp mô hình tiệm cận đầy đủ hơn với trụ cột 1 của Basel II so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam vốn chỉ xem xét rủi ro tín dụng.
- Đánh giá tác động của hoạt động M&A: Đưa biến số mua bán và sáp nhập ngân hàng vào mô hình định lượng nhằm đánh giá ảnh hưởng của các thương vụ tái cơ cấu ngân hàng yếu kém đến mức độ an toàn vốn của các ngân hàng nhận sáp nhập.
- Đóng góp về mặt giải pháp và chính sách: Đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn cho các NHTM (tăng vốn, xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, cải thiện năng lực sinh lời, tăng cường kiểm toán nội bộ) và khuyến nghị chính sách cụ thể cho NHNN và Chính phủ trong lộ trình áp dụng Basel II và hướng tới chuẩn mực Basel III.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Dữ liệu CAR phụ thuộc vào báo cáo tự tính toán của các NHTM Việt Nam theo các văn bản quy định thay đổi qua từng thời kỳ (Quyết định 457, Thông tư 13, Thông tư 36 và Thông tư 41), do các ngân hàng không công bố chi tiết từng danh mục tài sản rủi ro nên số liệu chịu ảnh hưởng bởi tính chủ quan trong việc điều chỉnh của từng tổ chức.
- Mẫu nghiên cứu giới hạn ở 35 NHTM trong nước (gồm 4 NHTM Nhà nước và 31 NHTM cổ phần), loại trừ các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài do hạn chế về công bố dữ liệu hoặc sự khác biệt khi các đơn vị này áp dụng chuẩn Basel III của ngân hàng mẹ.
- Đối với các thương vụ M&A, nghiên cứu chỉ đánh giá được tác động đến CAR của các ngân hàng nhận sáp nhập còn hoạt động đến cuối năm 2020.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các định chế tài chính khác và các ngân hàng nước ngoài khi hệ thống dữ liệu công bố theo chuẩn mực quốc tế hoàn thiện hơn.
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá định lượng tác động toàn diện của việc triển khai đầy đủ Thông tư 41/2016/TT-NHNN và lộ trình áp dụng Basel III tại Việt Nam sau năm 2020.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, giảng viên và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế học, Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống về các thế hệ Hiệp ước Basel (I, II, III), tài liệu tổng quan toàn diện về các yếu tố vĩ mô và vi mô tác động đến tỷ lệ an toàn vốn, cũng như quy trình ứng dụng mô hình dữ liệu mảng động và phương pháp ước lượng Two-step System GMM để xử lý các khuyết tật nội sinh.
- Các nhà quản trị ngân hàng thương mại: Tham khảo cơ sở thực tiễn để cân đối danh mục tài sản rủi ro, kiểm soát danh mục cho vay, tối ưu hóa hoạt động đầu tư chứng khoán và xây dựng lộ trình tăng vốn tự có đáp ứng chuẩn mực an toàn vốn.
- Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô: Cung cấp bằng chứng định lượng về hiệu quả của các chính sách tái cơ cấu theo Quyết định 254/QĐ-TTg và Quyết định 1058/QĐ-TTg, làm căn cứ điều chỉnh các văn bản quản lý và lộ trình áp dụng các tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
-
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được quy định là bao nhiêu theo các Hiệp ước Basel I, II, III?
Theo văn bản luận án, cả ba hiệp ước Basel I, Basel II và Basel III đều quy định tỷ lệ an toàn vốn tổng thể tối thiểu là 8% trên tổng tài sản điều chỉnh theo rủi ro (RWA). Tuy nhiên, Basel III quy định nâng cao chất lượng vốn: Vốn cấp 1 chiếm tối thiểu 6%, Vốn cổ phần phổ thông (CET1) tối thiểu 4.5%, đồng thời bổ sung thêm Vốn đệm bảo tồn (Conservation Buffer) 2.5% (đưa tổng vốn bắt buộc và đệm lên 10.5%) và Vốn dự phòng chống hiệu ứng chu kỳ từ 0% đến 2.5%.
-
Luận án sử dụng phương pháp kinh tế lượng nào để khắc phục các khuyết tật nội sinh, tự tương quan và phương sai sai số thay đổi?
Luận án sử dụng phương pháp hồi quy Moment tổng quát hệ thống hai bước (Two-step System GMM - S-GMM), kết hợp với Difference GMM và Long-run GMM. Phương pháp này cho phép xử lý đồng thời hiện tượng biến nội sinh (sinh ra từ biến trễ của CAR và các biến tài chính), kiểm soát tự tương quan và khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi mà các phương pháp OLS, FEM và REM không giải quyết được.
-
Mẫu nghiên cứu định lượng của luận án bao gồm những đối tượng nào và vì sao loại trừ ngân hàng nước ngoài?
Mẫu nghiên cứu gồm 35 NHTM Việt Nam còn hoạt động đến thời điểm tháng 12/2020 (gồm 4 NHTM Nhà nước và 31 NHTM cổ phần). Luận án không sử dụng dữ liệu của các ngân hàng nước ngoài hay chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam do các đơn vị này không công bố chi tiết số liệu hoặc số liệu CAR của họ được báo cáo trực tiếp theo chuẩn mực Basel III của ngân hàng mẹ.
-
Luận án đã đưa thêm những biến số mới nào vào mô hình so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam?
Luận án bổ sung: (1) Biến đặc trưng cho hai giai đoạn tái cơ cấu hệ thống NHTM (giai đoạn 2011–2015 theo Quyết định 254/QĐ-TTg và giai đoạn 2016–2020 theo Quyết định 1058/QĐ-TTg); (2) Biến đại diện cho rủi ro thị trường gồm Đầu tư chứng khoán ngắn hạn và Đầu tư chứng khoán dài hạn; (3) Biến mua bán và sáp nhập (M&A) ngân hàng.
-
Cách tính toán hệ số CAR tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006–2020 căn cứ vào các văn bản pháp lý nào?
Cách tính toán CAR của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn này dựa trên: Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN (giai đoạn 2006–2010), Thông tư số 13/2010/TT-NHNN (giai đoạn 2010–2014), Thông tư số 36/2014/TT-NHNN (giai đoạn 2014–2018), và Thông tư số 41/2016/TT-NHNN áp dụng chuẩn mực Basel II (giai đoạn 2018–2020).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Hải Yến đã giải quyết mục tiêu đo lường các yếu tố vĩ mô và vi mô tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của 35 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2006–2020. Bằng việc kết hợp khung lý thuyết chuẩn mực Basel với phương pháp hồi quy dữ liệu mảng động Two-step System GMM, nghiên cứu đã lượng hóa được tác động của các biến số tài chính, các biến đại diện rủi ro thị trường và hai giai đoạn tái cơ cấu theo Quyết định 254/QĐ-TTg và Quyết định 1058/QĐ-TTg. Các phát hiện thực nghiệm là cơ sở khoa học để luận án đề xuất các giải pháp tăng vốn, quản trị rủi ro và khuyến nghị chính sách giúp hệ thống NHTM Việt Nam đáp ứng chuẩn mực Basel II và tiệm cận Basel III.