Chương 1: Khái niệm và vai trò của quan lý Nhà nước đối với đâu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. + Chương 2: Phân định thẩm quyền quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. + Chương 3: Vanedé thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý Nha nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. - Phần kết luận CHUONG I: KHÁI NIEM VA VAI TRO CUA QUAN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM $ 1.
1, QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TẠI VIỆT NAM Quan lý là một tất yếu khách quan trong đời sống và sự phát triển của xã hội loài người. Các Mác đã coi "quản lý là một chức năng đặc biệt, nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động" | Quan lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quan lý. Quản lý xuất hiện và tồn tại ở bất kỳ nơi nào, nếu ở đó có hoạt động chung của con người. Mác viết "Bất kỳ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có quản lý để điều khiển, điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung"? "` Khi Nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc của xã hội do Nhà nước quan lý.
Quan lý Nha nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đốt nội và đối ngoại chủ yếu của Nhà nước. Nhà nước dùng pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản: lý Nhà nước. Thông qua pháp luật, Nhà nước có thể trao quyền cho các cá nhân hay tổ chức, để các chủ thể đó thay mặt Nhà nước tiến hành hoạt động quan lý Nhà nước`. Dưới góc độ pháp lý, quản lý Nhà nước được hiểu là việc Nhà nước xây dựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đồng thời tiến hành việc kiểm tra, giám sát các đối tượng quan lý trong việc tuân thủ các nguyên tắc quy phạm đó.
quyển † tập 2, Nxb Sự thật, HÀ Nội 1960. trang 29 C ): Mác - Ang ghen toàn tap, tập 23, trang 342, NXB Sự that, HA nội 1960 ( ): Đại học Luat Hà nội : Tập bài giảng Luat Hanh chính Việt nam, Hà nột 1994, trang 9 6 Quản lý Nhà nước về kinh tế là một chức năng quan trọng của Nhà nước XHCN nói chung và của Nhà nước XHCN Việt nam ta nói riêng, bởi lẽ bất kỳ Nhà nước nào muốn duy trì, tồn tại và phát triển đều phải xây đựng và củng cố nền kinh tế của mình. Nhà nước quan lý kinh tế thông qua các hoạt động:Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế-hoạch phát triển kinh tế-xã hội, khoa học kỹ thuật, hoạch định và thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội; dẫn dắt, hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho kinh đoanh; thực hiện kiểm soát của Nhà nước; quản lý và kiểm soát sử dụng tài sản quốc gia |. Để góp phần thúc đẩy đất nước phát triển ổn định, Nhà nước cần phải đặc biệt chú trọng đến nền tảng kinh tế của mình.
Vì thế, Nhà nước cần có một cơ chế quản lý kinh tế thích hop, bởi lẽ trong quản lý nhà nước về kinh tế thì hạt nhân cơ bản nhất chính là cơ chế quản lý kinh tế. Cơ chế là một khái niệm đùng để chỉ quy luật vận hành của hệ thống. Bất kỳ một sự vật, hiện tượng hay quá trình kinh tế -xã hội diễn ra trong tự nhiên, trong xã hội và tư đuy cũng có thể được hình dung là một hệ thống. Hệ thống này được cấu thành từ các yếu tố có xu hướng trái ngược nhau nhưng lại làm tiền dé ‘cho nhau tồn tại.
Chính sự tác động giữa các yếu tố này là nguyên nhân, nguồn gốc , động lực cho sự vận hành của hệ thống đó. Vậy, cơ chế là khái niệm dùng để chi sự tương tác giữa các yếu tố kết thành hệ thống mà nhờ đó hệ thống có thể hoạt động. Trong lĩnh vực kinh tế, "Cơ chế kinh tế là tổng thể các yếu tố có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo thành động lực din dat nén kinh tế phát triển"” Cơ chế kinh tế mang tính khách quan vốn có của nền kinh tế. Mỗi nền kinh tế đều có một cơ chế kinh tế đặc trưng của nó.
Dựa vào đó, người ta phân loại các nền kinh tế thành Kinh tế chỉ huy- vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá (1) Học viện HÀnh chính Quốc gia: Giáo trình về quản lý Hành chính Nhà nước, tập 3, Hà nội 1996, trang 10. ( ): Luong Xuân Quỷ : Cơ chế Thị trường và vai trò Nhà nước trong nên kinh tế Việt nam, NXB Thống kê 1994, trang 6. tập trung; Kinh tế thị trường - vận hành theo cơ chế thị trường; Kinh tế hỗn hợp - vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển theo một khuynh hướng mong muốn nhất định khi có một cơ chế quan lý phù hợp.Cơ chế đó mệt mặt tuân thủ được yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, mặt khác phất có được một hệ thống công cụ kinh tế và chính sách quản lý kinh tế thích hợp.
Vì thế, " Cơ chế quan lý kinh tế là khái niệm dùng để chỉ phương thức mà qua đó Nhà nước tác động.vào nền kinh tế để định hướng nền kinh tế tự vân động đến các mục tiêu đã định"!. Khái niệm trên đã bao hàm các nội dung sau: Cơ chế kinh tế là phương thức tự vận động của nền kinh tế, nó là biểu tượng của nhân tố khách quan. Còn cơ chế quản lý kinh tế là phương thức tác động của Nhà nước nhằm định hướng phát triển nền kinh tế. Cơ chế quan lý kinh tế mang tính chủ quan.
Do đó, Nhà nước chỉ có thể tác động vào nền kinh tế thông qua cơ chế quản lý kinh tế chứ không thể tác động trực tiếp vào nên kinh tế. Tuy nhiên, nếu Nhà nước nắm bắt được cơ chế kinh tế để vận dụng và coi nó là đối tượng nhận sự tác động của cơ chế quản lý kinh tế thì nhất định các chính sách kinh tế của Nhà nước sẽ đem lại được kết quả mong muốn. Ngược lại, nếu Nhà nước không nhận thức được cơ chế kinh tế, mà tác động vào nền kinh tế bằng cơ chế quản lý chủ quan, duy ý chí thì các chính sách kinh tế sẽ đem lại kết quả ngược với mục tiêu đã định.Vì thế, vai trò của Nhà nước trong việc điều. khiển quan lý nền kinh tế được thể hiện ở chỗ Nhà nước nắm được các quy luật vận động khách quan của nền kinh tế để vận dung các công cụ quản lý kinh tế như chính sách kinh tế, pháp chế kinh tế.tác động vào nền kinh tế thông qua cơ chế vốn có của nó để định hướng nên kinh tế phát triển tới các mục tiêu đã hoạch định.
Dựa vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ quan lý và trong mỗi giai đoạn hoặc hoàn cảnh lịch sử nhất định, các Nhà nước đều tự lựa chọn cho ( 3: Luong Xuân Quy : Cơ chế Thị trường và vai trò Nhà nước trong nền kinh tế Việt nam, NXB Thong kê 19911, trang 8. mình một mô hình quản lý phù hợp với bối cảnh đất nước và xu hướng phát triển chung của thời đại. Luận điểm Kinh tế chính trị Mác-Lênin cho rằng không thể cưỡng bức hay xoá bỏ một hình thức , một chế độ kinh tế nào khi mà sự tồn tại của nó trên thực tế vẫn chủng tỏ hiện quả kinh tế, phù hợp với tiến trình vận động phát triển khách quan của xã hội. nước ta, trước năm 1986, tồn tại cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp.
Cơ chế này có cả mặt tích cực và tiêu cực, nhưng xét cho cùng đó là cơ chế quan lý kinh tế kém hiệu quả. Nguyên nhân do chúng ta phạm phải sai lầm khi nhận thức không đúng quy luật khách quan của sự vận động phát triển kinh tế -xã hội. Chúng ta đã chủ quan duy ý chí, đốt chấy giai đoạn muốn xây dung nhanh Chủ nghĩa xã hội. Trong khí lực lượng san xuất ở nước ta đang còn mang tính chất sản xuất nhỏ thủ công là phổ biến, kinh tế phát triển không đồng đều, trình độ phân công và xã hội hoá lao động rất thấp thì chúng ta lại sử dụng cơ chế tập trung bao cấp - cơ chế làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, không khai thác được năng lực sẵn xuất xã hệ.
- Cách nhìn nhận phiến điện đó đã ảnh hưởng sâu sắc tới chức năng quản lý của Nha nước. Cơ chế quan lý kinh tế trong giai đoạn này là: Kế hoạch hoá được coi là cơ chế quan lý với kế hoạch là công cụ số một, có tính chất bất buộc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với tất cả các ngành các cấp, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế. Luật pháp về kinh tế có rất ít và các công cụ quan lý khác đều được xếp sau công cụ kế hoạch. Thông qua hệ thống chỉ tiêu kế hoạch chỉ tiết, Nhà nước trực tiếp quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
Bộ máy quan lý kinh tế được tổ chức cổng kénh nhưng lại kém hiệu quả. Mọi quyết định quan trọng đều xuất phát từ Nhà nước Trung ương, bộ máy Nhà nước ở địa phương có rất ít thực quyền. Biên chế của bộ máy quản lý kinh tế ngay càng phình to, nhưng năng lực lại yếu kém, phong cách quản lý quan liêu, cửa quyền. Nhưng, từ quan điểm lịch sử mà xét, cơ chế kế hoạch hoá đã góp phần đắc lực trong việc động viên nhân tài, vật lực phục vụ các nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu phù hợp với đặc điểm tình hình của đất nước có chiến tranh.
Có thể nói, cơ chế này đã hoàn thành sứ mạng của mình trong một giai đoạn lịch sử ở nước ta. Tuy vậy, sau năm 1975, khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất, tình hình trong nước cũng như thế giof đã có nhiều biến đổi, nhưng Nhà nước ta đã không kịp thời thay đổi-cơ chế quản lý cho phù hợp, vẫn tiếp tục duy trì cơ chế này ở Miền Bắc và áp đụng nguyên xi ở Miền Nam.