Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÀNH VI GIAO TIẾP VĂN HOÁ CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN PHỐI HỢP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giáo dục hành vi giao tiếp văn hoá - Nghiên cứu về hành vi giao tiếp văn hóa Từ thời cổ đại, các nhà triết học, các nhà GD đã quan tâm đến các vấn đề về giao tiếp. Thông qua giao tiếp con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, hình thành nên các năng lực, phẩm chất trong nhân cách.
Các hoạt động GD lao động, GD sức khoẻ, GD hình thành năng lực thực hành, năng lực hợp tác đã được coi trọng. Ông tổ của nền sư phạm cận đại J. Dale Carnegie với tác phẩm “Đắc Nhân Tâm”, sau gần 80 năm ra đời, đã đưa ra các lời khuyên về cách thức ứng xử, giao tiếp với mọi người để đạt được thành công trong cuộc sống, đưa ra những chỉ dẫn cụ thể để gây được thiện cảm với người khác. Ông đã đặt hết tâm huyết để viết một cuốn sách xoay quanh những bài học mà mỗi cá nhân cần phải được trang bị một cách đầy đủ nhất để làm hành trang bước vào đời và cũng để đương đầu với những sóng gió của cuộc đời.
Những cách ứng xử thường ngày cứ tưởng rằng đơn giản đến nỗi không ai nghĩ đến nhưng hàng vạn người mắc vô số lỗi trong ứng xử giao tiếp, thậm chí là cách làm người [23]. Trác Nhã đã phân tích bối cảnh hiện đại, từ xin việc đến thăng chức, từ tình yêu đến hôn nhân, từ giao lưu đến hợp tác… trong “Khéo ăn nói sẽ có được thiên hạ”. Nói chuyện cũng giống như các lĩnh vực khác, cũng cần không ngừng học tập, tích lũy kiến thức. Những người khéo ăn nói cũng phải rút kinh nghiệm trong những lần giao tiếp, không ngừng nâng cao kỹ năng thông qua việc quan sát hàng ngày và trải nghiệm trong thực tiễn.
Do đó, các chương trình GD hành vi GTVH kết hợp với các tình huống thực tế sẽ giúp HS hình thành những hành vi văn minh như những phản xạ có điều kiện [58]. Maxwell là chuyên gia về nghệ thuật lãnh đạo doanh nghiệp, truyền thụ những cách thức xây dựng đội ngũ lãnh đạo hiệu quả hướng tới kết quả tối ưu cho doanh nghiệp, là tác giả của cuốn sách “Ai cũng giao tiếp nhưng mấy người kết nối”, cho rằng giao tiếp là chìa khóa mở ra tất cả cánh cửa hạnh phúc nhất của một con người. Tác giả đã tổng kết 5 nguyên tắc nền tảng khi kết nối với mọi người, đồng thời đưa ra 5 ứng dụng hành động để kết nối thành công - với một người, một nhóm, với khán giả, hay bất kì ai [32]. Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, các nhà khoa học quan tâm đến hành vi giao tiếp có văn hóa, đặc biệt là hành vi giao tiếp có văn hóa của lứa tuổi HS.
10 Lưu Thu Thủy (1995), nghiên cứu quy trình GD hành vi giao tiếp có văn hóa với bạn cùng lứa tuổi cho HS. Tác giả đã nghiên cứu hành vi giao tiếp có văn hóa của HS dưới hai góc độ: Các nét tính cách bộc lộ qua giao tiếp và các kỹ năng giao tiếp của học sinh; thiết kế quy trình GD hành vi giao tiếp có văn hóa cho HS lớp 4, lớp 5 trong phạm vi trường học. Tuy nhiên, những hành vi giao tiếp bên ngoài trường học của HS chưa được quan tâm, nghiên cứu. Đây là khoảng trống bởi hành vi của người học không chỉ được thể hiện ở trong nhà trường mà nó còn được thể hiện ở gia đình và ngoài xã hội [75].
Phùng Thị Hằng (2007) trong nghiên cứu “Một số đặc điểm giao tiếp của HS phổ thông dân tộc nội trú khu vực Đông Bắc Việt Nam” đã khai thác khái niệm giao tiếp dưới góc độ nhu cầu giao tiếp, nội dung giao tiếp, phạm vi giao tiếp, đối tượng và cách sử dụng phương tiện giao tiếp của HS phổ thông. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài, nhu cầu giao tiếp, nội dung giao tiếp, phạm vi giao tiếp của HS dân tộc được thể hiện bằng kỹ năng hành vi như thế nào chưa được khai thác [39]. Trong nghiên cứu “Quan niệm về hành vi giao tiếp có văn hóa của tuổi trẻ” tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã nêu bật được các khái niệm về văn hóa, hành vi văn hóa và văn hóa giao tiếp từ đó định nghĩa hành vi GTVH, nêu các đặc điểm, các biểu hiện văn hóa giao tiếp của tuổi trẻ. Nghiên cứu có thể được coi là cơ sở tham khảo để xây dựng các chuẩn mực văn hóa giao tiếp cho HS tiểu học [81].
Nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Nhật (2009) đã chỉ ra cấu trúc của hành vi giao tiếp có văn hóa gồm 3 yếu tố: Yếu tố nhận thức, yếu tố tình cảm, yếu tố ý chí. Ba yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tạo nên cơ cấu chỉnh thể điều chỉnh hành vi con người trong các hành vi ứng xử hàng ngày thông qua các phương tiện giao tiếp: Lời nói, điệu bộ, cử chỉ [59]. - Nghiên cứu về giao tiếp đa văn hóa Nghiên cứu của tác giả J. Johnson (2017) với “Nâng cao năng lực giao tiếp liên văn hóa trong GD: Phân tích tổng hợp” đã tập trung vào việc tăng cường khả năng giao tiếp đa văn hoá trong lĩnh vực GD thông qua phân tích tổng hợp dữ liệu từ nhiều công trình nghiên cứu khác nhau.
Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tăng cường năng lực giao tiếp đa văn hoá không chỉ có lợi ích về mặt cá nhân cho HS, mà còn đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Khả năng giao tiếp đa văn hoá giúp xây dựng môi trường hòa bình, tôn trọng và đa dạng, và cung cấp những kỹ năng cần thiết để tham gia vào xã hội toàn cầu. GV cũng có thể áp dụng các phương pháp và biện pháp đã được chứng minh là hiệu quả để tạo điều kiện cho sự phát triển giao tiếp đa văn hoá cho HS [108]. Nghiên cứu “Đa dạng văn hóa trong lớp học: Đánh giá nghiên cứu và thực tiễn tốt nhất” của hai tác giả M.
Alcantara (2019) đã tập trung vào việc xem xét nghiên cứu hiện có và các phương pháp tốt nhất để quản lý đa dạng văn hóa trong lớp học. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng sự quản lý đa dạng văn hóa trong lớp học có thể được nâng cao thông qua nhiều phương pháp như tạo môi trường học tập 11 tôn trọng và chấp nhận sự đa dạng, khuyến khích sự hỗ trợ và hợp tác giữa HS, và tạo ra các hoạt động học tập phù hợp với các nền văn hoá khác nhau. GV có vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường lớp học đa dạng văn hóa. GV cần hiểu và đáp ứng tới các giá trị, niềm tin, nhu cầu của HS từ các nền văn hoá khác nhau.
Họ cũng cần sử dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp, như việc sử dụng ngôn ngữ và tài liệu đa dạng, khuyến khích sự tương tác và chia sẻ giữa các HS. Nghiên cứu này cung cấp một nền tảng vững chắc để hiểu và quản lý đa dạng văn hóa trong lớp học [87]. Jimenez (2020) trong nghiên cứu “Giáo dục đa văn hóa: Đánh giá về nghiên cứu và thực tiễn tốt nhất” tập trung vào định nghĩa của GD đa văn hóa. Đó là một hệ thống GD phát triển nhằm GD và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đa dạng văn hóa và tôn trọng sự khác biệt.
Mục tiêu chính của GD đa văn hóa là tạo ra một môi trường học tập mà tất cả HS có thể thể hiện bản thân và phát triển tiềm năng riêng của mình một cách tự tin và cởi mở. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh về ý nghĩa của việc áp dụng các phương pháp tốt nhất trong GD đa văn hóa. Các phương pháp như giảng dạy đa văn hóa, sử dụng tài liệu và sách giáo trình mang tính đa dạng, thực hành hợp tác và tư duy sáng tạo đa văn hóa, đề cao vai trò của ngôn ngữ trong việc xây dựng cầu nối văn hóa, tạo ra một môi trường học tập an toàn và tôn trọng tất cả các HS. Những khuyến nghị được đề xuất trong nghiên cứu phù hợp với điều kiện thực tiễn và có thể áp dụng được trong thực tiễn [101].
Nghiên cứu “Tác động của việc đào tạo năng lực văn hóa đối với việc thực hành của giáo viên và kết quả của HS: Đánh giá có hệ thống” của hai tác giả L. Katsiaficas (2019) đã tìm hiểu tác động của đào tạo năng lực văn hoá đối với thực hành của GV và kết quả học tập của HS thông qua việc phân tích tổng hợp các dữ liệu từ nhiều nghiên cứu khác nhau. Đào tạo năng lực văn hoá giúp GV nhận biết, hiểu và thể hiện sự tôn trọng đối với các giá trị, niềm tin và thực hành đa dạng văn hoá. HS khi được tiếp cận với một môi trường học tập đa văn hoá và có GV hiểu và tôn trọng đa dạng văn hoá, họ có khả năng phát triển toàn diện hơn, nâng cao kỹ năng giao tiếp, khả năng đánh giá và sáng tạo Đào tạo năng lực văn hoá cho GV có tác động lớn đến thực hành và kết quả học tập của HS.
Các quyết định quản lý GD nên đề cao việc đưa ra các chương trình đào tạo về năng lực văn hoá cho GV. Đồng thời, cần xem xét cung cấp nguồn lực và hỗ trợ cần thiết để GV có thể phát triển năng lực văn hoá của mình và áp dụng vào quá trình giảng dạy [114]. Một nghiên cứu quan trọng của nhóm nghiên cứu tại Đại học Harvard là “Cách thức giao tiếp hiệu quả giữa các giáo viên và HS đến từ các nền văn hoá khác nhau” tìm hiểu về cách thức giao tiếp hiệu quả giữa các GV và HS đến từ các nền văn hoá khác nhau. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tổ chức các hoạt động giao tiếp và trao đổi văn hoá trong lớp học có thể giúp tạo ra một môi trường học tập đa văn hóa tích cực.
Qua việc tương tác với nhau, GV và HS có thể nắm bắt và hiểu rõ hơn về các giá trị, quan điểm và niềm tin của nhau, đồng thời phát triển khả năng thiết lập mối quan hệ và làm việc cộng tác [26].