Luận án: Nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng thông tin TQHĐ ĐVSNCL ở Việt Nam

Luận án chọn lọc nộp cấp trường năm 2015, bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học quan trọng và có giá trị. Tìm hiểu chi tiết nội dung các bài luận.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

283
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nhân tố ảnh hưởng sử dụng thông tin TQHĐ ĐVSNCL

Thành quả hoạt động (TQHĐ) đóng vai trò then chốt trong quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam. Thông tin TQHĐ cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để nhà quản lý ra quyết định, đánh giá hiệu quả và cải thiện chất lượng dịch vụ công. Tuy nhiên, mức độ sử dụng thông tin này chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố phức tạp. Nghiên cứu của Châu Hồng Phương Thảo (2022) đã tổng hợp và phân tích các nhân tố chính, bao gồm văn hóa tổ chức, đặc điểm hệ thống đo lường TQHĐ, thái độ đối với thông tin TQHĐ và động lực phụng sự công. Các nhân tố này tương tác lẫn nhau, tạo thành mạng lưới ảnh hưởng đa chiều đến hành vi sử dụng thông tin của cán bộ quản lý. Khả năng lãnh đạo tích hợp và lãnh đạo chuyển đổi cũng được chứng minh là có tác động đáng kể. Moynihan và Ingraham (2004) nhấn mạnh rằng nhà lãnh đạo tham gia tích cực vào quy trình quản lý sẽ nâng cao nhu cầu về thông tin TQHĐ. Việc hiểu rõ các nhân tố này giúp xây dựng chiến lược cải thiện hiệu quả sử dụng thông tin trong khu vực công.

1.1. Khái niệm thông tin TQHĐ trong ĐVSNCL

Thông tin thành quả hoạt động là tập hợp dữ liệu định lượng và định tính phản ánh kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập. Thông tin này bao gồm các chỉ số về hiệu suất, chất lượng dịch vụ, mức độ hoàn thành mục tiêu và tác động đối với cộng đồng. Trong bối cảnh ĐVSNCL Việt Nam, thông tin TQHĐ phục vụ nhiều mục đích: đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách, kiểm soát chất lượng dịch vụ công và lập kế hoạch phát triển. Hệ thống đo lường TQHĐ cần đảm bảo tính chính xác, kịp thời và phù hợp với đặc thù từng ngành. Việc xây dựng bộ chỉ số TQHĐ chuẩn hóa là nền tảng quan trọng để thu thập và xử lý thông tin có giá trị cho quá trình ra quyết định.

1.2. Bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam

Các đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Nghị định 60/2021/NĐ-CP quy định cơ chế tài chính cho ĐVSNCL tạo áp lực đòi hỏi sử dụng thông tin TQHĐ hiệu quả hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều đơn vị còn hạn chế trong việc thu thập, phân tích và ứng dụng thông tin này. Nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào khu vực hành chính công ở các nước phát triển. Khoảng trống nghiên cứu về ĐVSNCL Việt Nam đặt ra nhu cầu cấp thiết phải xác định các nhân tố ảnh hưởng đặc thù. Bối cảnh văn hóa, thể chế và trình độ quản lý tại Việt Nam tạo nên những khác biệt quan trọng so với các nước phương Tây.

II. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng chính đến sử dụng thông tin TQHĐ

Nghiên cứu chỉ ra bốn nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ trong ĐVSNCL. Nhóm thứ nhất là văn hóa tổ chức, bao gồm mức độ sẵn sàng chấp nhận rủi ro và thái độ đối với đổi mới. Tổ chức có văn hóa cởi mở thường khuyến khích nhân viên tìm kiếm và sử dụng thông tin TQHĐ. Nhóm thứ hai là đặc điểm hệ thống đo lường TQHĐ. Hệ thống đo lường rõ ràng, đáng tin cậy sẽ tăng cường niềm tin của người sử dụng. Moynihan và Pandey (2010) chứng minh rằng chất lượng hệ thống đo lường có mối tương quan thuận với mức độ sử dụng thông tin. Nhóm thứ ba là thái độ đối với thông tin TQHĐ. Khi cán bộ quản lý nhận thấy thông tin hữu ích cho công việc, họ sẽ chủ động tìm kiếm và ứng dụng. Nhóm thứ tư là động lực phụng sự công. Người có động lực phụng sự công cao thường xem thông tin TQHĐ là phương tiện hoàn thành sứ mệnh phục vụ cộng đồng. Bốn nhóm nhân tố này tương tác và củng cố lẫn nhau.

2.1. Vai trò của khả năng lãnh đạo

Khả năng lãnh đạo đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy sử dụng thông tin TQHĐ. Lãnh đạo tích hợp (integrative leadership) thể hiện qua việc nhà quản lý tham gia tích cực vào quy trình quản lý, đề ra mục tiêu chiến lược và khuyến khích nhân viên tích hợp thông tin TQHĐ vào ra quyết định. Lãnh đạo chuyển đổi (transformational leadership) tập trung vào cải tiến, đổi mới tổ chức, xây dựng kết nối lâu dài giữa nhà lãnh đạo và nhân viên. Nghiên cứu của Moynihan và cộng sự (2012b) tại các cơ quan chính quyền cấp bang Mỹ证实 rằng lãnh đạo tích cực sẽ nâng cao nhu cầu về thông tin TQHĐ. Tại ĐVSNCL Việt Nam, vai trò lãnh đạo càng quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi mô hình quản lý.

2.2. Tác động của động lực phụng sự công

Động lực phụng sự công (public service motivation) là khái niệm được Perry và Hondeghem (2008) phát triển, chỉ mong muốn phục vụ lợi ích cộng đồng. Cá nhân có động lực phụng sự công cao thường định hướng hành vi theo hướng có lợi cho tổ chức. Họ xem thông tin TQHĐ là phương tiện để hoàn thành nhiệm vụ và tăng cường sử dụng nó. Moynihan và Pandey (2010)发现 rằng khi cá nhân bị thúc đẩy bởi niềm tin về sự vị tha, bao dung sẽ tích cực tìm kiếm và ứng dụng thông tin TQHĐ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh ĐVSNCL, nơi sứ mệnh phục vụ công chúng là mục tiêu cốt lõi. Động lực phụng sự công giúp giải thích tại sao một số cán bộ chủ động sử dụng thông tin TQHĐ hơn những người khác.

III. Giải pháp nâng cao sử dụng thông tin TQHĐ trong ĐVSNCL

Dựa trên phân tích các nhân tố ảnh hưởng, nhiều giải pháp được đề xuất để nâng cao mức độ sử dụng thông tin TQHĐ trong ĐVSNCL. Giải pháp đầu tiên là cải thiện chất lượng hệ thống đo lường TQHĐ. Hệ thống cần đảm bảo tính chính xác, kịp thời, dễ tiếp cận và phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực. Bộ chỉ số TQHĐ nên được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên. Giải pháp thứ hai là đào tạo năng lực phân tích và sử dụng thông tin cho cán bộ quản lý. Nhiều nghiên cứu quốc tế chứng minh rằng đào tạo kỹ năng giúp tăng cường khả năng khai thác thông tin TQHĐ. Giải pháp thứ ba là xây dựng văn hóa tổ chức khuyến khích sử dụng dữ liệu trong ra quyết định. Nhà lãnh đạo cần gương mẫu trong việc sử dụng thông tin TQHĐ và tạo cơ chế khen thưởng cho việc ứng dụng hiệu quả. Giải pháp thứ tư là tăng cường động lực phụng sự công thông qua giáo dục giá trị và gắn kết nhân viên với sứ mệnh tổ chức. Các giải pháp này cần được triển khai đồng bộ để đạt hiệu quả tối ưu.

3.1. Hoàn thiện hệ thống đo lường TQHĐ

Hệ thống đo lường TQHĐ là nền tảng cho việc thu thập và xử lý thông tin. ĐVSNCL cần xây dựng bộ chỉ số TQHĐ toàn diện, bao gồm cả chỉ số đầu ra và kết quả. Chỉ số cần đo lường được, có ý nghĩa và phù hợp với mục tiêu chiến lược. Hệ thống thu thập dữ liệu nên được tin học hóa, giảm thủ công và tăng tính chính xác. Báo cáo TQHĐ cần được thiết kế dễ hiểu, trực quan và cung cấp đúng thông tin cho từng đối tượng sử dụng. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý TQHĐ giúp tăng tốc độ truy cập và xử lý dữ liệu. Hệ thống cũng cần cơ chế phản hồi để cải thiện liên tục.

3.2. Đào tạo và phát triển năng lực nhân viên

Nâng cao năng lực nhân viên là giải pháp then chốt để tăng cường sử dụng thông tin TQHĐ. Chương trình đào tạo cần tập trung vào kỹ năng đọc hiểu, phân tích và diễn giải dữ liệu TQHĐ. Nhân viên cần được hướng cách áp dụng thông tin TQHĐ vào quy trình ra quyết định thực tế. Đào tạo nên được thực hiện định kỳ, kết hợp lý thuyết và thực hành. Bên cạnh đào tạo kỹ năng, cần phát triển tư duy dựa trên dữ liệu (data-driven mindset) cho cán bộ quản lý. Cơ chế cố vấn và chia sẻ kinh nghiệm giữa các đơn vị cũng giúp lan tỏa best practices. Đầu tư vào phát triển năng lực nhân viên mang lại lợi ích lâu dài cho tổ chức.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn cho ĐVSNCL Việt Nam

Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng sử dụng thông tin TQHĐ mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho quản lý ĐVSNCL Việt Nam. Kết quả证实 rằng văn hóa tổ chức, đặc điểm hệ thống đo lường, thái độ đối với thông tin TQHĐ và động lực phụng sự công đều có ảnh hưởng显著 đến mức độ sử dụng thông tin. Khả năng lãnh đạo đóng vai trò trung gian, kết nối các nhân tố này với hành vi sử dụng thông tin thực tế. Mối quan hệ giữa sử dụng thông tin TQHĐ và hiệu quả hoạt động tổ chức cũng được证实, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác. Hàm ý quản trị cho thấy ĐVSNCL cần tiếp cận tổng hợp, đồng thời cải thiện hệ thống đo lường, xây dựng văn hóa sử dụng dữ liệu và phát triển năng lực nhân viên. Chính sách công cần tạo khung pháp lý thuận lợi và cơ chế khuyến khích để thúc đẩy sử dụng thông tin TQHĐ. Nghi cứu mở ra hướng tiếp tục khám phá các nhân tố trong bối cảnh chuyển đổi số.

4.1. Hàm ý cho hoạch định chính sách

Kết quả nghiên cứu có nhiều hàm ý quan trọng cho hoạch định chính sách quản lý ĐVSNCL. Cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành tiêu chuẩn đo lường TQHĐ thống nhất cho toàn hệ thống. Chính sách đào tạo cán bộ quản lý nên đưa nội dung sử dụng thông tin TQHĐ vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên. Cơ chế khen thưởng và đánh giá hiệu quả cần gắn liền với mức độ sử dụng thông tin TQHĐ trong ra quyết định. Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin hỗ trợ thu thập và xử lý dữ liệu TQHĐ cũng cần được ưu tiên. Chính sách nên khuyến khích thí điểm các mô hình quản lý dựa trên dữ liệu tại ĐVSNCL. Việc xây dựng khung pháp lý rõ ràng tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai thực tế.

4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu này mở ra nhiều hướng tiếp tục探索 trong tương lai. Hướng thứ nhất là扩展 mô hình nghiên cứu,引入 thêm các nhân tố如 công nghệ thông tin, năng lực số của cán bộ quản lý. Hướng thứ hai là áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính sâu如 phỏng vấn chuyên gia để hiểu rõ cơ chế tác động. Hướng thứ ba là nghiên cứu纵向 (longitudinal) để theo dõi sự thay đổi trong sử dụng thông tin TQHĐ theo thời gian. Hướng thứ tư là so sánh giữa ĐVSNCL các ngành khác nhau如 giáo dục, y tế, văn hóa. Nghiên cứu quốc tế so sánh giữa các nước cũng là hướng值得探索. Kết quả từ các hướng nghiên cứu này sẽ làm丰富 thêm hiểu biết về chủ đề quan trọng này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 là tìm ra khoảng trống để định hướng thực hiện nghiên cứu tiếp theo. Để đạt mục tiêu này cần phải tổng hợp những nghiên cứu có liên quan, từ đó có cơ sở để biện luận khoảng trống nghiên cứu, hình thành câu hỏi nghiên cứu đủ sức thuyết phục, và nhận diện những đóng góp của luận án so với những nghiên cứu khác (Snyder, 2019). Nội dung chương này gồm: - Tổng quan những nghiên cứu ở nước ngoài; - Tổng quan những nghiên cứu ở Việt Nam; - Nhận diện khoảng trống nghiên cứu; - Hướng nghiên cứu của luận án. Tổng quan nghiên cứu ở nƣớc ngoài Căn cứ kết quả tìm kiếm tài trên các cơ sở dữ liệu học thuật về chủ đề nghiên cứu, nội dung này được chi tiết theo từng dòng nghiên cứu, bao gồm: (1) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ, (2) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TQHĐ và (3) nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụng thông tin TQHĐ đến TQHĐ.

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ. Theo Julnes và Holzer (2001), thực hành đo lường TQHĐ là một quá trình gồm ít nhất hai bước: bước phát triển (adoption phase) và bước sử dụng (implementation phase). Bước phát triển là giai đoạn vận dụng kiến thức để chuận bị các hoạt động đo lường như: lựa chọn các tiêu chí đo lường, lập kế hoạch đo lường. Bước sử dụng đề cập đến cách sử dụng các thông tin TQHĐ để hoạch định chiến lược, phân bổ nguồn lực, quản lý, giám sát, đánh giá cho mục đích quản trị nội bộ, hoặc báo cáo cho các cơ quan chức năng, công dân hay công bố trên phương tiện truyền thông.

Như vậy, sử dụng thông tin TQHĐ thuộc bước thứ hai của quá trình thực hành đo lường TQHĐ. Suốt những thập kỷ gần đây, cải cách khu vực công yêu cầu các tổ chức đo lường và giám sát các mục tiêu chiến lược cũng như những thành tựu đạt được 11 (Moynihan, 2005). Tuy nhiên, dữ liệu thu từ hoạt động này không tự động nâng cao TQHĐ của tổ chức, cần phải hiểu những dữ liệu này sẽ mang lại tác dụng gì sau khi nó được báo cáo và đánh giá, nói cách khác là những thông tin này sẽ được sử dụng như thế nào (Van Dooren & Van de Walle, 2008). Các nhân tố kích thích hoặc cản trở việc sử dụng thông tin TQHĐ trong khu vực công được đề cập khá đa dạng, tổng quan về dòng nghiên cứu này được trình bày nhóm theo từng nhân tố nhằm nắm bắt các thông tin về bối cảnh, phương pháp thực hiện và kết quả được tìm thấy.

Lần lượt các nhân tố được trình bày gồm: đặc điểm của hệ thống đo lường TQHĐ, sự tham gia của các bên liên quan, cam kết của lãnh đạo, văn hóa tổ chức, thái độ đối với thông tin TQHĐ, động lực phụng sự công, sự tự chủ, diễn đàn học tập, mạng lưới kết nối, tính rõ ràng của mục tiêu hoạt động, phong cách lãnh đạo, việc thể chế hóa đo lường TQHĐ, chính trị. Đặc điểm của hệ thống đo lường TQHĐ Melkers và Willoughby (2005) nghiên cứu ở Mỹ và kết luận rằng khi hệ thống đo lường TQHĐ được thiết kế cẩn thận, rõ ràng sẽ có tác động đáng kể đến tính hợp lý của các quyết định về ngân sách, vì thế thông tin TQHĐ sẽ được sử dụng ở mức cao hơn. Để được sử dụng thường xuyên, những chỉ tiêu đo lường cần phải phù hợp với mục tiêu quản lý, phản ánh đầy đủ cả về kết quả và hiệu quả thay vì chỉ thể hiện khối lượng công việc đầu ra (Ammons & Rivenbark, 2008; Moynihan & Pandey, 2010). Ngoài ra, Taylor (2009) cũng cho rằng mức độ sử dụng thông tin TQHĐ chịu ảnh hưởng bởi khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin cho người dùng khi khảo sát các cơ quan công quyền ở Úc.

Bên cạnh đó, Kroll và Proeller (2013) nghiên cứu tình huống trong các cơ quan chăm sóc sức khỏe ở Đức đã bổ sung thêm rằng sự chi tiết của các tiêu chí TQHĐ và sự đa dạng của những thước đo sẽ ảnh hưởng tích cực đến khả năng sử dụng thông tin TQHĐ, Lee (2020) cũng có kết luận tương tự khi khảo sát trong các tổ chức phi lợi nhuận ở Mỹ. Không đề cập thẳng đến đặc điểm của hệ thống đo lường nhưng Kroll (2015b) đã khẳng định ảnh hưởng của chất lượng dữ liệu TQHĐ đến hành vi sử dụng các dữ liệu này theo cách lý giải của lý thuyết hành vi theo dự định (Theory of Planned Behavior), khi nhà quản lý có ý định sử dụng dữ liệu TQHĐ thì họ có những biện pháp hỗ trợ thu thập thông tin có 12 giá trị và chất lượng, và nếu thông tin đảm bảo các tiêu chuẩn này thì sẽ tiếp tục thúc đẩy hành vi sử dụng của nhà quản lý. Gần đây, Dimitrijevska‐ Markoski và French (2019) đã phát hiện ra tính đầy đủ của hệ thống đo lường có ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp đến mức độ sử dụng thông tin TQHĐ thông qua việc thể chế hóa việc thực hành đo lường TQHĐ của các tổ chức công ở Mỹ. Sự tham gia của các bên liên quan Berman và Wang (2000) khảo sát các cơ quan cấp quận ở Mỹ và kết quả cho thấy thông tin TQHĐ được sử dụng phổ biến là nhờ sự ủng hộ của các nhà quản lý cho hoạt động đo lường TQHĐ.

Tiếp theo, nghiên cứu của Yang và Hsieh (2007) ở Đài Loan, tác giả đã vận dụng lý thuyết tầm trung (Middle-range theory) đề xuất mô hình dạng cấu trúc tuyến tính và cho kết quả tương tự. Ngoài ra, chuyên môn của nhà quản lý, sự ủng hộ của những chính trị gia và công dân cho việc thực hành đo lường TQHĐ cũng ảnh hưởng đến mức độ sử dụng dữ liệu TQHĐ (Rivenbark và cộng sự, 2019; Wang & Berman, 2001). Xét bên ngoài tổ chức, các chính trị gia và công dân là những bên liên quan quan trọng, vì thế sự tham gia của họ vào qui trình đo lường sẽ giúp nâng cao tần suất sử dụng cũng như tính hữu ích của hệ thống đo lường TQHĐ (Yang & Hsieh, 2007), điều này còn được kiểm chứng trong một số nghiên cứu khác (ví dụ Bourdeaux & Chikoto, 2008; Ho, 2006; Melkers & Willoughby, 2005). Xét bên trong tổ chức, khi cả nhà quản lýcũng như nhân viên chấp nhận, sẵn sàng thực hiện các biện pháp đo lường TQHĐ thì các dữ liệu từ việc đo lường này sẽ được sử dụng thường xuyên hơn (Boyne và cộng sự, 2004; Folz, Abdelrazek, & Chung, 2009).

Khác với các nghiên cứu đã nêu, kết quả hồi qui của Taylor (2011) lại cho rằng sự hỗ trợ của các bên liên quan không có liên quan đáng kể đến mức độ sử dụng thông tin TQHĐ. Cam kết của lãnh đạo Lãnh đạo có vai trò cốt yếu trong quá trình cải cách khu vực công (Dull, 2009). Sử dụng dữ liệu phỏng vấn từ 50 bang của Mỹ, bằng phương pháp hồi qui OLS (Ordinary Least Square), Moynihan và Ingraham (2004) xác nhận vai trò quan trọng của lãnh đạo tích hợp (intergrative leadership) trong nỗ lực cải cách khu vực 13 chính phủ mà trọng tâm là thực hiện quản trị theo kết quả, bao gồm cả đo lường TQHĐ. Việc triển khai, áp dụng các kỹ thuật đo lường và sử dụng các dữ liệu TQHĐ trong các cơ quan công vụ ở Mỹ còn chịu tác động tích cực từ cam kết của quản lý cấp cao đối với mục tiêu của đơn vị, cam kết của quản lý cấp cao sẽ ảnh hưởng đến mức độ nhân viên cảm thấy có trách nhiệm với kết quả và mức độ họ sử dụng thông tin cho quá trình ra quyết định (Cavalluzzo & Ittner, 2004).

Văn hóa tổ chức Đối với một tổ chức, chấp nhận và triển khai đo lường TQHĐ sẽ gây ra sự không chắc chắn vì những rủi ro có liên quan, điều này có thể là nguyên nhân cho sự phản kháng, gây cản trở đến việc sử dụng các thông tin TQHĐ cho quá trình quản trị (Julnes & Holzer, 2001). Vì vậy, khi tổ chức có tồn tại một hệ thống kích thích sự đổi mới, sáng tạo và ―chấp nhận rủi ro‖ thì sẽ làm thay đổi cảm nhận của cá nhân đối với sự đổi mới nói chung và đo lường các thành tích đạt được nói riêng, tạo thuận lợi cho việc chấp nhận và thực hiện đo lường TQHĐ (Julnes & Holzer, 2001). Khi nhân viên hiểu rõ về tầm nhìn, sứ mệnh và kế hoạch của tổ chức (mission oriented) thì sẽ thúc đẩy cơ chế học tập của tổ chức diễn ra liên tục và hiệu quả hơn, đây là kết quả hồi qui đa biến từ dữ liệu khảo sát trong các tổ chức công của Mỹ (Moynihan & Landuyt, 2009). Trong một nghiên cứu khác của Johansson và Siverbo (2009) ở Thụy Điển, tác giả nhấn mạnh ảnh hưởng của khuynh hướng chấp nhận sự thay đổi và sự chủ động trong quá trình tìm kiếm phương pháp đánh giá phù hợp.

Đây là một khía cạnh thuộc về văn hóa, tương đồng với khía cạnh ―chấp nhận rủi ro‖ theo lập luận của Julnes và Holzer (2001) và ―văn hóa phát triển‖ theo cách tiếp cận của Moynihan và Pandey (2010), Lee (2020). Ngoài ra, ảnh hưởng của yếu tố văn hóa tổ chức đến mức độ sử dụng thông tin TQHĐ còn được phản ánh bởi Taylor (2011) khi nghiên cứu ở Úc. Thái độ đối với thông tin TQHĐ Những nghiên cứu đã xác nhận việc sử dụng thông tin TQHĐ chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với các thông tin này. Ho (2006) khảo sát 281 thị trưởng của các thành phố ở Mỹ, kết quả thống kê mô tả phản ánh rằng nhận thức của nhà quản lý là 14 tác nhân có ảnh hưởng đáng kể đến thực hành quản trị theo kết quả, khi các nhà quản lý không nhiệt tình với vấn đề đo lường TQHĐ và cho rằng lợi ích từ việc đầu tư nguồn lực vào công cụ này là không xứng đáng thì họ sẽ đánh mất sự nhiệt tình đối với công cụ này.

Mặt khác, Ammons và Rivenbark (2008) nghiên cứu ở Mỹ cũng cho rằng giá trị của việc đo lường TQHĐ thể hiện ở hai khía cạnh, đó là hỗ trợ tổ chức giải trình kết quả với các bên liên quan và cải thiện dịch vụ, khi các tổ chức chính quyền thành phố tin tưởng rằng các khía cạnh này đạt được thì họ sẵn sàng sử dụng dữ liệu điểm chuẩn (benchmaking). Nếu các tổ chức nhận thức được rằng thông tin TQHĐ thật sự cần thiết và hữu ích đối với tổ chức thì sử dụng công cụ này thường xuyên hơn (Kroll, 2015b; Taylor, 2011).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ