CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1- Mô hình sản xuất thông minh Trạm phân loại sản phẩm là một phần của hệ thống mô hình sản xuất thông minh. Vậy thì mô hình sản xuất thông minh có vai trò và những đặc điểm gì, chúng ta sẽ tìm hiểu khái quát về nó sau đây. Mô hình sản xuất thông minh là hệ thống điều khiển hoàn toàn tự động như hệ thống sản xuất linh hoạt (FMS: Flexible Manufacturing System) được áp dụng rộng rãi vào sản xuất hàng loạt có thể đạt được các yêu cầu về năng suất và chất lượng của sản phẩm. Các FMS sẽ kích hoạt các hoạt động tự động bằng các chương trình được lập trình trước đó.
Do đó, các FMS này gặp khó khăn để đạt được các yêu cầu về tính khả dụng, khả năng thích ứng và độ tin cậy. Các hệ thống sản xuất do con người vận hành với khả năng nhận thức như nhận thức, học hỏi và lý luận để đưa ra quyết định có thể đáp ứng các yêu cầu này. Tuy nhiên, ứng dụng thực tế của các hệ thống này thấp do chi phí sản xuất cao cũng như chỉ thích hợp để sản xuất nguyên mẫu hoặc quy mô lô nhỏ. Vì vậy, cần phải tích hợp khả năng nhận thức vào các FMS để đạt được các hệ thống FMS với các đặc tính tiên tiến lấy cảm hứng sinh học.
Smart-CPMS (Cyber Physical Manufacturing System) có các đặc điểm nâng cao như sau: 1. Mỗi yếu tố trong Smart-CPMS là một thực thể tự trị được trang bị các khả năng mới như nhận thức, lý luận để đưa ra quyết định, giao tiếp và hợp tác. Mỗi CPS có khả năng đưa ra quyết định một cách tự chủ; 2. Cải thiện hệ thống về tính thông minh và tính tự chủ của FMS, Smart-CPMS có khả năng thích ứng với những thay đổi trong sản xuất trong thời gian ngắn và tức thì.
3 Hệ thống sản xuất vật lý không gian mạng thông minh (Smart-CPMS) được thể hiện trong Hình 1. Một trong những xu hướng lớn hơn của sản xuất là các sản phẩm được cá nhân hóa. Smart-CPMS có khả năng trả lời nhanh chóng và chính xác những thay đổi của môi trường sản xuất mà không cần can thiệp từ bên ngoài.1- Mô hình quy trình sản xuất thông minh Ở cấp độ quản lý, khách hàng đặt mua bằng cách lựa chọn sản phẩm trên màn hình kĩ thuật số. Sau đó, thông tin sản phẩm được gửi đến bộ phận lập kế hoạch và quy trình thiết kế trên sàn cửa hàng.
Các thuật toán lấy cảm hứng từ sinh học như thuật toán di truyền, thuật toán bầy đàn, v. được sử dụng để lập ra quy trình thực hiện. Nhờ đó mà nhiều phương pháp tối ưu hóa được đưa ra. Như Smart-CPMS, Internet of Service (IoS) được sử dụng hiệu quả để phân công các nhiệm vụ từ thiết kế đến lập kế hoạch.
4 Ở cấp độ cửa hàng, Smart-CPMS được coi là sự hợp tác trong IoT giữa các thiết bị thông minh để thực hiện các nhiệm vụ. CPS là một tổ chức tự quản có thể tự kiểm soát trong việc thích ứng với những thay đổi cũng như hợp tác với các CPS khác để hoàn thành việc lập kế hoạch. Giao diện người - máy (HMI), Smart-Phone và trợ lý kỹ thuật số cá nhân (PDA) được sử dụng để giao tiếp giữa máy với con người. Cơ sở hạ tầng CNTT-TT như hệ thống thực thi sản xuất (MES), hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) , mạng không dây, hệ thống RFID và mạng cảm biến cho phép CPS nắm bắt trạng thái của nó cũng như giao tiếp với các CPS.
Phần không gian mạng đưa ra quyết định tùy theo trạng thái được giao. Cơ chế lập luận dựa trên tri thức từ trí tuệ nhân tạo để đưa ra quyết định, lập kế hoạch mới, chẳng hạn như các thông số cắt mới cho quá trình gia công hoặc yêu cầu hợp tác với các CPS khác. Mô-đun giao tiếp chịu trách nhiệm tương tác với các CPS khác cũng như các thiết bị HMI và PDA. Triển khai hệ thống Smart-CPS (Cyber Physical System) CPS có thể hiểu đơn giản như một cụm kết cấu thực hiện một hoạt động trong một chuỗi các hoạt động của dây chuyền sản xuất hiện đại.
Trạm phân loại sản phẩm cũng là một CPS như vậy. thực hiện quá trình phát hiện và phân loại các sản phẩm để đưa tới các CPS tiếp theo. Trạm phân loại sản phẩm là một CPS của một mô hình sản xuất thông minh trong các nhà máy công nghiệp hiện nay.2- Lí do chọn đề tài Ngày nay cùng với sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật, kỹ thuật điện tử mà trong đó điều khiển tự động đóng vai trò hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật, quản lí, công nghiệp tự động hóa, cung cấp thông tin…. do đó chúng ta phải nắm bắt và vận dụng nó một cách có hiệu quả nhằm góp phần vào 5 sự phát triển nền khoa học kỹ thuật thế giới nói chung và trong sự phát triển kỹ thuật điều khiển tự động nói riêng.
Xuất phát từ những đợt đi thực tập tốt nghiệp tại nhà máy, các khu công nghiệp và tham quan các doanh nghiệp sản xuất, chúng em đã được thấy nhiều khâu được tự động hóa trong quá trình sản xuất. Một trong những khâu tự động trong dây chuyền sản xuất tự động hóa đó là số lượng sản phẩm sản xuất ra được các băng tải vận chuyển và sử dụng hệ thống nâng gắp phân loại sản phẩm. Tuy nhiên đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì việc tự động hóa hoàn toàn chưa được áp dụng trong những khâu phân loại, đóng bao bì mà vẫn còn sử dụng nhân công, chính vì vậy nhiều khi cho ra năng suất thấp chưa đạt hiệu quả. Từ những điều đã được nhìn thấy trong thực tế cuộc sống và những kiến thức mà em đã học được ở trường muốn tạo ra hiệu suất lao động lên gấp nhiều lần, đồng thời vẫn đảm bảo được độ chính xác cao về kích thước.
Nên em đã quyết định thiết kế và thi công một mô hình sử dụng băng chuyền để phân loại sản phẩm vì nó rất gần gũi với thực tế, vì trong thực tế có nhiều sản phẩm được sản xuất ra đòi hỏi phải có kích thước tương đối chính xác và nó thật sự rất có ý nghĩa đối với chúng em, góp phần làm cho xã hội ngày càng phát triển mạnh hơn, để xứng tầm với sự phát triển của thế giới. Băng tải thường được dùng để di chuyển các vật liệu đơn giản và vật liệu rời theo phương ngang và phương nghiêng. Trong các dây chuyền sản xuất, các thiết bị này được sử dụng rộng rãi như những phương tiện để vận chuyển các cơ cấu nhẹ, trong các xưởng luyện kim dùng để vận chuyển quặng, than đá, các loại xỉ lò trên các trạm thủy điện thì dùng vận chuyển nhiên liệu. Trên các kho bãi thì dùng để vận chuyển các loại hàng bưu kiện, vật liệu hạt hoặc 1 số sản phẩm khác.
Trong 1 số ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, hóa chất thì dùng để vận chuyển các sản phẩm đã hoàn thành và chưa hoàn thành giữa các công đoạn, các phân xưởng, đồng thời cũng dùng để loại bỏ các sản phẩm không dùng được.3- Giới thiệu sản phẩm băng tải 1.1- Khái niệm và lịch sử ra đời Băng tải là một thiết bị truyền tải sản phẩm, nguyên vật liệu, … giúp di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác với tốc độ nhanh, hiệu quả, chính xác. Băng tải công nghiệp được thiết kế để chịu được khối lượng công việc lớn, điều kiện môi trường làm việc khắc nghiệt, cũng như di chuyển theo các phương hướng khác nhau. Các loại băng tải được cấu tạo bởi nhiều loại vật liệu khác nhau, chủng loại vô cùng phong phú và đa dạng.2- Băng tải hiện nay Lịch sử của băng tải bắt đầu trong nửa sau của thế kỷ 17. Kể từ đó, băng tải đã là một phần tất yếu của vận chuyển vật liệu.
Nhưng đó là vào năm 1795 rằng băng tải 7 đã trở thành một phương tiện phổ biến để chuyển tải vật liệu rời. Ban đầu nó chỉ được sử dụng để di chuyển bao tải hạt với khoảng cách ngắn. Hệ thống băng tải và làm việc cũng khá đơn giản trong những ngày đầu. Hệ thống băng chuyền có một chiếc giường bằng gỗ phẳng và một vành đai đi qua chiếc giường bằng gỗ.
Trước đó, băng tải được làm bằng da, vải hay cao su. hệ thống băng chuyền nguyên thủy này đã rất phổ biến cho việc chuyên chở vật cồng kềnh từ nơi này đến nơi khác. Vào đầu thế kỷ 20, các ứng dụng của băng tải trở nên rộng hơn. Hymle Goddard là người đầu tiên nhận được bằng sáng chế cho các băng tải con lăn trong năm 1908.
Các doanh nghiệp con lăn băng tải không phát triển thịnh vượng. Một vài năm sau đó, vào năm 1919, cung cấp và băng tải tự do được sử dụng trong sản xuất ô tô. Như vậy, băng tải đã trở thành công cụ phổ biến cho việc chuyên chở hàng hóa nặng và lớn trong các nhà máy.3- Hệ thống băng tải vận chuyển đá những năm 90 8 Trong thập niên 1920 đã được phổ biến, và cũng đã trải qua những thay đổi to lớn. Băng tải được sử dụng trong các mỏ than để xử lý chạy than cho hơn 8kms, và đã được thực hiện bằng cách sử dụng lớp bông và cao su bìa.
Các băng tải dài nhất hiện nay được sử dụng là dài hàng trăm km, ở các khu mỏ phosphate Tây Sahara. Một trong những bước ngoặt trong lịch sử của nó là sự ra đời của băng tải tổng hợp. Nó được giới thiệu trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ yếu là do sự khan hiếm của các vật liệu tự nhiên như bông, cao su và vải. Kể từ đó, băng tải tổng hợp đã trở nên phổ biến trong các lĩnh vực khác nhau.
Băng tải sau đó đã nhanh chóng được sửa đổi và phát triển để sử dụng trong nhiều ứng dụng sau khi mọi người thấy được lợi ích về chi phí và thời gian sử dụng băng tải trong hoạt động kinh doanh. Băng tải là một sự sáng tạo đặc biệt mang tính ứng dụng rất cao. Thay vì vận chuyển hàng hóa bằng sức người vừa tốn thời gian vừa tốn kém chi phí thuê nhân công tạo một khung cảnh lộn xộn cho nơi làm việc. Hiểu được điều đó, nên hiện nay băng tải đang được áp dụng rất nhiều trong đời sống công nghiệp hiện đại nói riêng và đời sống bình thường nói chung.