PHẦN MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của đề tài Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển miền trung có khí hậu tương đối khắc nghiệt, chia làm hai mùa mưa và nắng rõ rệt. Mùa nắng có nhiệt độ trung bình rất cao, mùa mưa thì lượng mưa rất lớn, gây ra lũ lụt thường xuyên. Do đó các tuyến đường thường xuyên bị ngập trong nước vào mùa mưa.
Điều này làm ảnh hưởng đến độ bền và tuổi thọ của đường giao thông. Sự xuống cấp một cách nhanh chóng của các tuyến đường cũng một phần do nguyên nhân này gây ra. Quảng Ngãi là một tỉnh nghèo đang đang thu hút được đầu tư với nhiều dự án lớn nên việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới đường bộ phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội là thiết yếu. Vì vậy, việc nghiên cứu kết cầu áo đường hợp lý cho tỉnh nhà là điều hết sức thiết thực, làm giảm chi phí duy tu, sửa chữa khắc phục, phục vụ cho việc đầu tư đúng vào các dự án về sau.
Đó chính là lý do nghiên cứu của đề tài. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu lựa chọn một số giải pháp kết cấu áo đường phù với điều kiện kiện tự nhiên, khí hậu của tỉnh Quảng Ngãi. Đối tượng nghiên cứu - Tìm hiểu tình hình sử dụng các loại vật liệu ở địa phương, chỉ tiêu cơ lý của các loại vật liệu để lựa chọn loại vật liệu thích hợp phục vụ cho công tác thiết kế kết cấu áo đường. - Tìm hiểu thành phần và lưu lượng dòng xe hiện tại trên một số tuyến đường, dự báo thành phần và lưu lượng dòng xe tương lai, từ đó xác định mô đun đàn hồi yêu cầu của mặt đường.
Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu kết cấu áo đường sử dụng vật liệu địa phương ở khu vực thành phố Quảng Ngãi và khu kinh tế Dung Quất, áp dụng cho đường làm mới và nâng cấp mở rộng. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu theo quy trình thiết kế áo đường mềm 22TCN 211-06 và các quy trình hiện hành, cùng với việc tham khảo kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước. 3 CHƢƠNG 1: TỒNG QUAN MẠNG LƢỚI ĐƢỜNG TỈNH QUẢNG NGÃI 1.1 Giới thiệu chung. Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển miền trung, trải dài từ 14°32′ đến 15°25′ Bắc, từ 108°06′ đến 109°04′ Đông, tựa vào dãy núi Trường Sơn hướng ra biển Đông, có nhiều núi đồi cao, gò, thung lũng và biển cả chia làm các miền riêng biệt.
Quảng Ngãi có một thành phố trực thuộc và mười ba huyện. Phía bắc giáp với Quảng Nam, Phía nam giáp với Bình Định, phía tây giáp với Kon Tum, phía đông giáp với biển Đông. Mạng lưới đường bộ Quảng Ngãi trong các năm gần đây đang được đầu tư xây dựng mở rộng liên kết các huyện, xây dựng cơ sở hạ tầng mở rộng thành phố Quảng Ngãi và khu kinh tế Dung Quất. Tỉnh Quảng Ngãi có 513.520 ha đất tự nhiên.
Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 99.055 ha, chiếm 19,28%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 144.164 ha, chiếm 28,07%; diện tích đất chuyên dùng là 20.797 ha, chiếm 4,04%; diện tích đất ở là 6.594 ha, chiếm 1,28%; diện tích đất chưa sử dụng, sông suối núi đá là 242. - Diện tích tự nhiên: 5,137.6 km2 - Dân số :1,217,159người - Mật độ :237 người/km2 Nông nghiệp: Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh. Mặc dù điều kiện tự nhiên có nhiều khó khăn như mưa lũ, hạn hán thường xuyên nhưng ngành công nghệp vẫn tăng trưởng không ngừng. Giá trị sản xuất toàn ngành năm 2010 ước đạt 2.720 tỷ đồng, tăng 3,3% so năm 2009, trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 1.715 tỷ đồng, tăng 3,7%; giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 145 tỷ đồng, tăng 1,2%; giá trị sản xuất thủy sản ước đạt 860 tỷ đồng, tăng 2,8%, đời sống người dân nông thôn được nâng lên rõ rệt, bộ mặt nông thôn ngày thêm đổi mới.
4 Công nghiệp: Sự phát triển công nghiệp ở Quảng Ngãi bao gồm nhiều ngành khác nhau, tuy mỗi ngành có sự khác biệt về quy mô, trình độ kỹ thuật - công nghệ, lao động, nhưng có thể phân loại được một số ngành công nghiệp chủ yếu, như sau: 1) Công nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống; 2) Công nghiệp dệt may; 3) Công nghiệp chế biến lâm sản, gỗ, tre nứa; 4) Công nghiệp khai thác mỏ, vật liệu xây dựng; 5) Công nghiệp lọc hóa dầu và hóa chất; 6) Công nghiệp cơ khí, điện tử; 7) Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước; 8) Các ngành công nghiệp khác. Quảng Ngãi xác định hướng phát triển là đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền công nghiệp của tỉnh; công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, gắn với sự phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đặc biệt là Khu Kinh tế Dung Quất, xây dựng thành một tỉnh có công nghiệp phát triển vào năm 2020; chú trọng phát triển các ngành công nghiệp đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và hướng mạnh vào xuất khẩu như là lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí và đóng tàu biển, vật liệu xây dựng và khai thác mỏ, chế biến đường và sau đường, thủy sản, nông lâm sản; sản xuất hàng tiêu dùng và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ các dự án kinh tế lớn, trọng tâm là phục vụ Khu Kinh tế Dung Quất. Giá trị sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong GDP của tỉnh: Bảng tỉ trọng giá trị công nghiệp trong cơ cấu GDP Bảng 1-1 Năm 1990 1996 2000 2005 2010 Tỉ trọng giá trị công nghiệp trong 12.31 cơ cấu GDP (%) 5 Tỉ trọng giá trị công nghiệp trong cơ cấu GDP của tỉnh tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 42,86%/năm. Vận tải: Mạng lưới giao thông bộ: Toàn tỉnh hiện có trên 3.298, 9 km đường giao thông.
Trong đó: đường do Trung ương quản lý dài 185 km, chiếm 5,6%; đường do tỉnh quản lý dài 286 km, chiếm 8,7%; đường do huyện quản lý dài 679,9 km, chiếm 20,6 % và đường do xã quản lý dài 2. Chất lượng đường bộ: Ðường cấp phối, đường đá dăm chiếm 20,6%; đường nhựa chỉ chiếm 14,3%, còn lại là đường đất. Hiện còn 02 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm. Một số tuyến đường chính ở Quảng Ngãi: Quốc lộ 1A: đoạn chạy qua tỉnh: 98km Quốc lộ 24A: Nối liền Quốc lội 1A (đoạn qua Thạch Trụ, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi) với KonTum dài 69km và Quốc lộ 24B dài 18km.
Đường Đông Trường Sơn đi qua 2 xã Sơn Mùa và Sơn Bua, huyện Sơn Tây với tổng chiều dài 13 km. Tỉnh lộ: Gồm 18 tuyến với tổng chiều dài 520,5km. Đường ven biển Dung Quất- Sa Huỳnh đi qua các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ và thành phố Quảng Ngãi, với chiều dài khoảng 117 Km. Có điểm đầu tại ranh giữa hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi thuộc Khu kinh tế Dung Quất và điểm cuối giao với Quốc lộ 1A tại Km1116 thuộc Sa Huỳnh, huyện Đức Phổ.
Đây là tuyến đường góp phần quan trọng khơi dậy tiềm năng vừa phát triển kinh tế - xã hội dọc vùng ven biển, nâng cao đời sống người dân, vừa gắn với củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh ở khu vực này. Đường nội KKT Dung Quất: có tổng chiều dài trên 60km, đang được tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn thành các tuyến đường đang triển khai đầu tư và 6 các tuyến đường đã quy hoạch. Xây dựng đường Dung Quất nối với đường Hồ Chí Minh theo hướng Trà My - Trà Bồng - Bình Long - Ngã ba Nhà máy lọc dầu - cảng Dung Quất. Quy hoạch và xây dựng tuyến đường Trị Bình - cảng Dung Quất và một số tuyến đường trục chính của đô thị Vạn Tường.2 Giới thiệu khái quát về các điều kiện khí hậu, đặc điểm địa chất thủy văn và tình hình giao thông ở khu vực tỉnh Quảng Ngãi.1 Điều kiện tự nhiên ở Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới và gió mùa. Nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc Bán Cầu, Quảng Ngãi có nền nhiệt độ cao và ít biến động trong năm, nhiệt độ trung bình 25-26,9°C. Khí hậu có nhiều gió Đông Nam ít gió Đông Bắc. Hoàn lưu gió mùa cùng với địa hình đã tạo nên chế độ mưa mang nét đặc trưng riêng của Quảng Ngãi.
Thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa nắng. Mùa mưa ( mưa nhiều): Vùng có lượng mưa lớn của Quảng Ngãi thuộc các huyện miền núi phía tây như Tây Trà, Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long và Ba Tơ, với tổng lượng mưa từ 2300 đến trên 2600mm, với tâm mưa là Ba Tơ 2641mm. Vùng mưa ít nhất của tỉnh nằm ở phía đông dọc theo dải đồng bằng ven biển, có tổng lượng mưa dưới 1650mm, có lượng mưa ít nhất là Sa Huỳnh với 1114mm. Những nơi còn lại lượng mưa từ 1700 - 2000mm.
Lượng mưa trong năm tập trung chủ yếu từ tháng 9 đến 12, chiếm 70 - 80% tổng lượng mưa năm. Mưa chỉ tập trung cao vào 3 - 4 tháng cuối năm nên dễ gây lũ lụt, ngập úng. Có đợt mưa liên tục 5 - 7 ngày liền, kèm theo thời tiết giá lạnh, gió bấc, gây nhiều ách tắc cho sản xuất, sinh hoạt và làm cho các tuyến đường xuống cấp nhanh chóng, giảm tuổi thọ của đường. Mùa nắng ( ít mưa): 7 Từ tháng 1 đến tháng 8 ở vùng đồng bằng, thung lũng thấp và hải đảo, lượng mưa chỉ chiếm 20 - 30% tổng lượng mưa năm, vùng núi đạt tỷ lệ 30 - 35% tổng lượng mưa năm do có mùa mưa phụ từ tháng 5 đến tháng 8.
Từ tháng 2 đến tháng 4 là thời kỳ mưa ít nhất trong năm. Do vậy mà ở địa phương người ta xem từ tháng 1 đến tháng 8 là mùa nắng, cùng cảm giác nóng bức. - Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình năm ở các vùng trong tỉnh có giá trị xấp xỉ 85%, nhìn chung độ ẩm trong năm khá đồng đều trên các vùng của tỉnh. Trong mùa mưa, vùng hải đảo có độ ẩm thấp hơn vùng đồng bằng.
Phân bố không gian của độ ẩm tương đối thể hiện quy luật chung là tăng theo địa hình và độ cao của địa hình. Vùng núi phía tây là nơi có độ ẩm cao nhất 90 - 92%. Vào giai đoạn đầu và giữa mùa khô, khi phần lớn các nơi khác trong tỉnh độ ẩm giảm dần và xuống dưới 85%, thì ngược lại vùng hải đảo độ ẩm tăng cao đến 90%.