CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Tại nhiều nước, lạm phát được coi là vấn đề kinh tế- xã hội rất nghiêm trọng. Khi một nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao sẽ dẫn đến sụt giảm tiết kiệm, sụp đổ đầu tư, các luồng vốn trong nước sẽ chạy ra nước ngoài. Ngoài ra, lạm phát sẽ làm giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế, mất khả năng thực hiện những kế hoạch dài hạn của quốc gia và nhược điểm của nó tạo nên sự căng thẳng về chính trị và xã hội. Chính phủ mỗi nước luôn luôn phấn đấu tìm ra những giải pháp, chính sách để đối phó và khắc phục khi lạm phát xảy ra.
Từ đó chính sách lạm phát mục tiêu ra đời. Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách tiền tệ đa mục tiêu. Chúng ta vừa kỳ vọng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nhanh chóng vươn lên và ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp và giải quyết công ăn việc làm, vừa kỳ vọng kiểm soát giá cả và lạm phát, ổn định tiền tệ, vừa sử dụng chính sách tiền tệ như một công cụ bổ trợ ổn định ngân sách, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh quốc gia. Thực hiện chính sách tiền tệ đa mục tiêu với neo danh nghĩa là tổng phương tiện thanh toán chúng ta cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cơ chế chính sách tiền tệ này đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế của mình. Vậy làm thế nào để vừa kiềm chế được lạm phát, vừa tiếp tục tăng trưởng ở mức độ hợp lý là một bài toán rất khó. Ngày càng nhiều các nước áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu, khuôn khổ này được mở rộng từ các nước công nghiệp cho các nước có thị trường mới nổi như Brazil, Chile, Colombia, Hungary, Israel, Hàn Quốc, Ba Lan, Nam Phi, Thái Lan…và đã đạt được những thành công trong việc kiềm chế lạm phát. Bài nghiên cứu cũng đã tìm hiểu các điều kiện tiên quyết để thực hiện chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu và kinh nghiệm của các thị trường mới nổi trong việc thực hiện khuôn khổ LPMT.
Phần này sẽ được trình bày ở mục 2. Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng đặt ra là liệu Việt Nam hiện nay đã có đủ điều kiện áp dụng khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu hay chưa? Đây cũng chính là mục tiêu của bài nghiên cứu và phần này được trình bày ở mục 4.2 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Có nhiều công trình nghiên cứu quốc tế về khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu. Các công trình nghiên cứu tập trung vào những nội dung cơ bản của khuôn khổ LPMT, bao gồm: khái niệm, lợi ích khi thực hiện chính sách tiền tệ LPMT, những điều kiện tiên quyết để áp dụng khuôn khổ LPMT thành công. Khái niệm lạm phát mục tiêu.
Qũy tiền tệ quốc tế IMF cho rằng: Chính sách tiền tệ LPMT là một bản công báo ra công chúng về chỉ tiêu trung hạn của lạm phát cũng như uy tín của cơ quan thẩm quyền về tiền tệ để đạt mục tiêu này. Các yếu tố khác bao gồm phổ biến thông tin về các kế hoạch và mục tiêu của nhà hoạch định chính sách tiền tệ tới công chúng và thị trường, cũng như trách nhiệm giải trình của Ngân hàng Trung ương để đạt được các chỉ tiêu lạm phát của mình. Các quyết định về chính sách tiền tệ sẽ dựa trên độ lệch dự báo lạm phát (một cách hoàn toàn hay rõ ràng) đóng vai trò là chỉ tiêu trung gian của chính sách tiền tệ”. Miskin (2000) lạm phát mục tiêu là một chiến lược tiền tệ bao gồm 5 nhân tố: (1) công bố ra công chúng mục tiêu lạm phát định lượng trong trung hạn;(2) cam kết thể chế nhằm ổn định giá cả như một mục tiêu chủ yếu của chính sách tiền tệ; (3) chiến lược thông tin bao gồm nhiều biến số ( không chỉ có tổng cung tiền hay tỷ giá hối đoái) được sử dụng cho việc thiết lập công cụ chính sách; (4) tăng tính minh bạch của chiến lược chính sách tiền tệ thông qua việc công bố ra công chúng và thị trường về kế hoạch, mục tiêu, những quyết định của Ngân hàng trung ương và (5) tăng trách nhiệm giải trình.
Có nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát mục tiêu, nhưng tựu trung các nghiên cứu đều nhất trí rằng: Lạm phát mục tiêu là một khung cơ bản cho chính sách tiền tệ trong đó NHTW tính toán và công khai công bố một chỉ số lạm phát mục tiêu, và sẽ cố gắng duy trì mục tiêu này để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ổn định và tỷ lệ thất nghiệp thấp. Miskin (2004): Khuôn khổ lạm phát mục tiêu ở các nước thì rất phức tạp, LPMT không phải là một liều thuốc hữu hiệu giúp các nước này tăng cường tính ổn 4 định của nền kinh tế. Tác giả xem xét những khía cạnh của các nước có nền kinh tế chuyển đổi và mới nổi để lạm phát mục tiêu có thể thực hiện, những khó khăn mà các nước này gặp phải. Những khó khăn và khác biệt bao gồm: (i) các định chế tài khóa yếu kém, (ii) các định chế tài chính yếu kém, (iii) mức độ tin cậy thấp của các định chế tiền tệ, (iv) tình trạng đô la hóa, và (v) tính dễ bị tổn thương của các nước này trước sự dừng lại đột ngột của dòng vốn vào.
Theo tác giả, các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi và mới nổi nên tập trung vào phát triển những thể chế này để đảm bảo chiến lược chính sách tiền tệ hướng về lạm phát mục tiêu tạo ra được các kết quả vĩ mô tốt hơn. Trong nghiên cứu này, tác giả lấy hai trường hợp nghiên cứu là ChiLe và Brazin, hai nước này có những kinh nghiệm quý báu trong việc giảm lạm phát và duy trì ổn định vĩ mô từ mức lạm phát cao thông qua thực hiện khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu. Miskin (2005): Khuôn khổ LPMT giúp các nước có tỷ lệ lạm phát thấp hơn trong dài hạn; tỷ lệ lạm phát cũng ít bị ảnh hưởng bởi các cú sốc giá dầu, tỷ giá hối đoái, tăng cường tính độc lập của CSTT; nâng cao hiệu quả của CSTT. Khuôn khổ LPMT không những giúp quốc gia giảm lạm phát mà còn giữ cho tỷ lệ lạm phát ổn định.
Joel Bogdanski, Alexandre Antonio Tombini và Sergio Ribeiro C.Werlang (2000): khuôn khổ lạm phát mục tiêu giúp cải thiện tính minh bạch của CSTT bằng việc tăng cường trao đổi với công chúng (việc thông báo, trao đổi với công chúng, những người tham gia thị trường tài chính là rất quan trọng), tăng trách nhiệm của NHTW trong việc đạt được mục tiêu. Khuôn khổ LPMT cũng giúp cho nhân viên của ngân hàng hiểu rõ hơn cơ chế truyền tải của CSTT, và có hiểu biết để quyết định kênh nào là phù hợp để đạt được mục tiêu lạm phát. Giorgi Bakradze và Andreas Billmeier (2010) đã nghiên cứu ước lượng và thấy nước Georgia đã sẵn sàng thông qua chính sách lạm phát mục tiêu. Sau khi quan sát các điều kiện tiên quyết để thực hiện LPMT, bài nghiên cứu tập trung vào một điều kiện tiên quyết đặc biệt là kỹ thuật chuyển giao tiền tệ ổn định.
Bài nghiêncứu chỉ 5 ra rằng chỉ có sự độc lập của ngân hàng trung ương có thể vượt qua được thủ tục hành chính và hoạt động yếu kém và thiết lập một kỹ thuật chuyển giao tin cậy hơn. Batini và Douglas Laxton (2007) đã nghiên cứu các điều kiện theo đó lạm phát mục tiêu có thể được thông qua và kinh nghiệm ở các nền kinh tế mới nổi. Dựa trên quan sát mới và chi tiết của 31 ngân hàng trung ương, tác giả đã chỉ ra rằng lạm phát mục tiêu ở các nước kinh tế mới nổi đã đem lại lợi ích to lớn cho các nước thông qua nó cân đối với các mục tiêu khác như tiền hay mục tiêu tỷ giá. Hơn nữa so sánh hiệu quả của các nước thực hiện lạm phát mục tiêu với các nước theo đuổi các chính sách tiền tệ khác đã chỉ ra rằng có một sự cải tiến lớn trong neo lạm phát và lạm phát kỳ vọng không có ảnh hưởng bất lợi đối với sản lượng đầu ra.
Thêm nữa, dưới lạm phát mục tiêu, lãi suất, tỷ giá và dự trữ quốc tế ít mất ổn định hơn và rủi ro tiền tệ do liên quan đến tiền hay tỷ giá mục tiêu là thấp hơn. Thú vị hơn, “IT làm cho tỷ giá tốt hơn”. Bằng chứng quan sát chỉ ra rằng không cần thiết các nướcđáp ứng một cách nghiêm ngặt các điều kiện tiên quyết về hành chính, kỹ thuật, và kinh tế để có thể thông qua thành công lạm phát mục tiêu. Điều kiện tiên quyết của lạm phát mục tiêu.
Ba điều kiện tiên quyết để thực thi chính sách lạm phát mục tiêu là: 1) sự độc lập của ngân hàng trung ương, 2) sự vắng mặt của những cam kết đối với các mục tiêu khác mà nó có thể mâu thuẫn với mục tiêu lạm phát thấp, 3) sự hiện hữu của mối quan hệ ổn định và có thể tiên đoán được giữa công cụ thực hiện chính sách tiền tệ và lạm phát. Sự độc lập của ngân hàng trung ương Yêu cầu cơ bản của chính sách lạm phát mục tiêu là ngân hàng trung ương phải có sự độc lập hoàn toàn để điều chỉnh tự do các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu lạm phát thấp. Sự độc lập không mang nghĩa độc lập hoàn toàn nhưng ít nhất độc lập trong công cụ cho phép tự do hơn trong việc quản lý chính sách tiền tệ và hàm ý chính rằng ngân hàng trung ương không thể cung cấp tiền cho ngân sách chính phủ. Theo đó, ngân hàng trung ương không nên được yêu cầu tỷ lệ 6 lãi suất thấp trên nợ công hoặc duy trì một tỷ giá danh nghĩa đặc biệt.
Không nên có bất cứ áp đặt nào lên ngân hàng trung ương để nâng tỷ lệ tăng trưởng theo đó mâu thuẫn với việc đạt được lạm phát mục tiêu (Debelle và Lim, 1998). Đảm bảo rằng mục tiêu lạm phát không bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu khác. Điều kiện thứ hai để thông qua chính sách lạm phát mục tiêu là sự vắng mặt của các mục tiêu danh nghĩa khác như tiền lương, nhân công và tỷ giá danh nghĩa. Nói cách khác, chỉ có một mục tiêu duy nhất trong hệ thống.
Ví dụ, khi một nước lựa chọn chính sách tỷ giá cố định, nó sẽ không có khả năng đạt được lạm phát mục tiêu và tỷ giá mục tiêu ở cùng một thời điểm.