Chương 1: Cơ sở lý luận về lãi suất cho vay tiêu dùng trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng lãi suất cho vay tiêu dùng của hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam giai đoạn 2012-2014 Chương 3: Khuyến nghị liên quan đến lãi suất cho vay tiêu dùng trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT CHO VAY TIÊU DÙNG TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG 1. Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Cho vay đƣợc biết đến nhƣ là một trong những hoạt động truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển của ngân hàng thƣơng mại.
Đây là hoạt động tạo ra lợi nhuận lớn cho ngân hàng nhƣng cũng tiềm ẩn đầy rủi ro khó lƣờng trƣớc. Cho vay đƣợc hiểu là một hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định. Khi xem xét ở góc độ cụ thể hơn về cho vay liên quan đến tiêu dùng, “Cho vay tiêu dùng là một hình thức cấp tín dụng, qua đó ngân hàng và công ty tài chính cho khách hàng là các nhân hay hộ gia đình vay một lượng tiền nhất định để mua hàng hóa hay dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng.”1 Thông qua định nghĩa về cho vay và cho vay tiêu dùng, ta có thể xác định đƣợc đối tƣợng, hình thức cho vay tiêu dùng cũng nhƣ mục đích của các khoản vay tiêu dùng. - Đối tƣợng cho vay tiêu dùng là các cá nhân hoặc hộ gia đình có nhu cầu tiêu dùng nhƣng nguồn thu nhập hiện tại của họ không đủ để đáp ứng nhu cầu đó.
Cho vay tiêu dùng cho phép ngƣời đi vay hƣởng thụ trƣớc khi họ có đủ khả năng về tài chính với cam kết hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ, đúng thời hạn khi họ xoay sở đƣợc nguồn tài chính của mình. - Hình thức cho vay tiêu dùng: Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành (cấp tín dụng bằng tiền); cho vay theo phƣơng thức thấu chi tài khoản cá nhân và cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. TS Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Tín dụng Ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê, 2014, 402. 5 - Mục đích của các khoản vay tiêu dùng: Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp ngƣời tiêu dùng trang trải, đáp ứng các nhu cầu vốn trực tiếp phục vụ đời sống của cá nhân và hộ gia đình của khách hàng bao gồm: sửa chữa nhà và mua nhà để ở; mua phƣơng tiện đi lại; chi phí học tập và chữa bệnh; mua đồ dùng và trang thiết bị gia đình; chi phí cho hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch,… Cho vay tiêu dùng đã giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán của cá nhân ngƣời tiêu dùng trong hiện tại.
Vì vậy, cho vay tiêu dùng đã nhanh chóng trở thành một thị trƣờng lớn đầy tiềm năng và hấp dẫn đối với các ngân hàng thƣơng mại. Ngày nay, cho vay tiêu dùng giữ một vị trí ngày càng quan trọng và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Việc mở rộng cho vay tiêu dùng trên thị trƣờng chính thức đã giúp thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng tăng lên của ngƣời dân đồng thời mang lại lợi nhuận lớn hơn cho các ngân hàng thƣơng mại. Đặc điểm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay cung cấp cho các cá nhân và hộ gia đình để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu nên nó có những đặc điểm riêng, khác biệt so với các loại hình cho vay khác.
Thứ nhất, quy mô cho vay tiêu dùng nhỏ, chi phí giao dịch trung bình cao. Do mục đích của cho vay tiêu dùng là đáp ứng các nhu cầu chi tiêu nhƣ nhà ở, xe cộ, đồ dùng gia đình, giáo dục, y tế, du lịch… nên giá trị của khoản vay đa phần là nhỏ hơn so với các khoản vay phục vụ cho việc đầu tƣ duy trì hoặc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Dù giá trị khoản vay nhỏ hơn nhƣng để tạo lập đƣợc một khoản vay mới, nhân viên ngân hàng vẫn phải thực hiện đầy đủ các bƣớc trong quy trình tín dụng, dẫn tới chi phí quản lý của ngân hàng với một món vay tiêu dùng tƣơng đƣơng với chi phí cho doanh nghiệp vay một món lớn để sản xuất kinh doanh. Điều đó làm cho chi phí tổ chức cho vay trên một đồng vốn dùng để cho vay tiêu dùng thƣờng cao hơn so với cho vay sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ. Khi nền kinh tế tăng trƣởng, thu nhập của cá nhân có xu hƣớng tăng lên dẫn đến quy mô tiết kiệm tăng lên, 6 thanh khoản của các ngân hàng tốt cùng với sự lạc quan vào thu nhập của khách hàng trong tƣơng lai khiến các ngân hàng mở rộng cho vay tiêu dùng. Trong khi đó, do lạc quan vào tƣơng lai, các cá nhân cũng tìm kiếm các sản phẩm cho vay tiêu dùng nhiều hơn. Cung, cầu quỹ cho vay tiêu dùng đều tăng khiến cho quy mô cho vay tiêu dùng tăng lên và điều này diễn ra ngƣợc lại trong thời kỳ nền kinh tế suy thoái.
Thứ ba, nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất. Ngƣời tiêu dùng thƣờng chỉ quan tâm đến giá trị khoản tiền họ phải trả hàng tháng hơn là lãi suất mặc dù rõ ràng lãi suất ghi trên hợp đồng sẽ ảnh hƣởng đến quy mô số tiền phải trả. Trong khi lãi suất không phải là một trong những yếu tố quan trọng mà hộ gia đình vay tiền quan tâm thì mức thu nhập và trình độ học vấn lại tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản tiền vay của ngƣời tiêu dùng. Những ngƣời có thu nhập cao hoặc ngƣời gia đình mà chủ gia đình có học vấn cao thƣờng có xu hƣớng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của họ.
Thứ tư, nguồn trả nợ không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đối với các khoản vay tiêu dùng thì phần chênh lệch giữa thu nhập bao gồm lƣơng, thƣởng và chi phí sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình chính là nguồn để hoàn trả gốc và lãi vay cho ngân hàng. Do đó, thu và chi chính là hai yếu tố tác động trực tiếp đến khả năng hoàn trả của khách hàng. Tuy nhiên, hai yếu tố này dễ bị ảnh hƣởng khi có sự thay đổi về các điều kiện khách quan và chủ quan nhƣ điều kiện kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật, trình độ học vấn, tuổi tác, sức khỏe,… Thứ năm, tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định.
Bên cạnh đánh giá năng lực tài chính của khách hàng thì xác định tƣ cách của khách hàng hay thiện chí trả nợ là một yếu tố quan trọng cần đƣợc cán bộ tín dụng quan tâm. Tuy nhiên, việc thông tin thu thập đƣợc của nhóm khách hàng này thƣờng không đầy đủ và chính xác. Đối với các doanh nghiệp, cán bộ tín dụng thƣờng thẩm định qua báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán nên có sự đảm bảo nhất định về tính trung thực và hợp lý của các số liệu, còn với các cá nhân, đa phần thông tin thu thập đƣợc là do khách hàng cung cấp và từ bạn bè, ngƣời thân, đồng nghiệp của khách hàng nên sẽ khó khăn hơn trong việc kiểm chứng, đánh giá mức thực thu, chi. Nếu khách hàng không trung thực có thể dẫn đến sự bất cân xứng về thông tin, ngân hàng đƣa ra lựa chọn đối nghịch và rủi ro tín dụng là điều khó tránh.
Các hình thức cho vay tiêu dùng 1. Căn cứ vào mục đích vay a. Cho vay tiêu dùng cư trú Cho vay tiêu dùng cƣ trú (cho vay bất động sản) là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc/và cải tạo nhà của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình. Quy mô trung bình của một món vay thƣờng lớn hơn nhiều so với quy mô trung bình của các món cho vay tiêu dùng phi cƣ trú.
Thời hạn cho vay rất đa dạng, có thể từ một vài tháng cho tới 25-30 năm phụ thuộc vào mức độ hoàn thành công trình (giai đoạn thi công và giai đoạn hoàn thiện) hoặc mục đích vay tiền (để sửa chữa, xây mới và mua từ đối tƣợng khác). Giá trị và tình trạng tài sản là trọng tâm của món vay trong cho vay bất động sản, có tầm quan trọng tƣơng đƣơng với thu nhập của ngƣời đi vay. Việc ngân hàng định giá giá trị tài sản bảo đảm cần phải rất chính xác nhằm giúp ngân hàng có thể hạn chế những tổn thất về tài chính khi khách hàng vỡ nợ và ngân hàng buộc phải phát mại tài sản để thu hồi vốn. Cho vay tiêu dùng phi cư trú Cho vay tiêu dùng phi cƣ trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch… Đặc điểm của những khoản tín dụng này thƣờng có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn hơn cho vay bất động sản nhƣng số lƣợng các món vay nhiều.
Mức độ rủi ro đối với ngân hàng do đó mà thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng cƣ trú. Yếu tố quyết định cho vay hay không là khả năng trả nợ của ngƣời vay, sau đó mới xem xét đến giá trị tài sản bảo đảm. Trong nhóm này, có thể chia làm hai loại: - Cho vay hàng tiêu dùng lâu bền: cho vay mua sắm các tài sản có thời gian sử dụng lâu dài nhƣ ô tô, xe máy… Tính khả dụng của các tài sản này là khá cao, giá trị ở mức trung bình nên nhiều ngƣời tiêu dùng có nhu cầu mua sắm. Tài sản bảo đảm cho khoản vay có thể là chính tài sản hình thành từ vốn vay.
- Cho vay tiêu dùng khác: cho vay nhằm tài trợ cho những nhu cầu tiêu dùng nhƣ giáo dục, giải trí, cƣới hỏi, chữa bệnh… 8 1. Căn cứ vào phương thức hoàn trả a. Cho vay tiêu dùng trả góp: Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó ngƣời đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay.