HỘI THẢO KHOA HỌC TÍNH HỢP LÝ CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT WA NỘI, THANG 11 NĂM 2007 L_————————————— TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Khoa Hành chính - Nhà nước HỘI THẢO KHOA HỌC “TÍNH HỢP LÝ CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT” Ha Nội ngày 10 tháng 11 năm 2007 DANH MỤC CÁC BÁO CÁO KHOA HỌC 1. Bài Ngọc Son. Tính hợp lí của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền. Bùi Thị Đào.
Sự thống nhất giữa tính hợp lí và tính hợp pháp của văn "bản pháp luột. Nguyễn Minh Doon, Từ những quy định không hợp lí trong quy chế của bộ. giáo dục và đào tạo suy nghĩ về tính hợp If của văn bản quy phạm pháp luật. Hoàng Minh Hà.
Luận bàn về tinh hợp Ii của văn bản quay phạm pháp luật. Nguyễn Thị Mai. Bàn về tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật 6. Nguyễn Dăng Dung.
Các văn bản pháp luật không thé mang tính hợp lý. Nguyễn Ngọc Bích. Đảm bảo tính hợp lý trong các quy định về thời điểm. có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật 8.
Trần Thị Vượng. Một số yêu cầu về việc sử dụng ngôn ngữ để đảm bao tính hợp lí cho nội dung văn bản quy phạm pháp luật. TAS, Bài Thị Đào. Sự độc lập tương đối của tính hợp pháp và tính hợp li của văn ban pháp luật 10.
Đoàn Thị Té Uyên Sự bắt hợp li trong quy định về xử lí văn bản quy phạm. pháp luật của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002.TS Lé Văn Long, TAS. Bùi Thị Đào. Suy nghĩ về việc xử lí văn bản pháp luật bat hợp lí.
Bùi Xuân Phái. Vai trò của quốc hội và chính phủ trong hoạt động xây dựng pháp luật 13. Trần Nho Thin. Bàn về tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật.
Trần Thị Vượng. Vẫn đề chuẩn hóa thể thức văn bản pháp luật. Thái Vĩnh Thẳng. Tìm hiểu tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp uật qua bộ luật nỗi tiếng của nước Pháp — Bộ luật dân sự Napoleon 1804.
Đoàn Thị TỔ Uyên. Luật, pháp lệnh khung nhưng vẫn chỉ Tội thảo khoa học: TÍNH HỢP LÝ CUA VĂN BẢN QUY PHAM PHÁP LUẬT TÍNH HỢP LÝ CỦA PHÁP LUẬT 'TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Th.Bài Ngọc Sơn Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội 1. Hợp lý như một yêu cẩu của pháp luật trong nhà nước pháp quyền. "Trong một trật tự pháp quyền, quyển lực của pháp luật được thượng tôn.
Vay, quyền lực của pháp luật là từ đâu ? Hay do đâu pháp luật có quyền lực cương toä toàn xã hội ? Đây không phải là một câu hỏi thường được trả lời trong các các giáo thuyết vẻ nhà nước pháp quyền. ‘Tam huyết với cách nhận thức cổ điển vẻ pháp luật, một phó giáo sư luật cho rằng cho dù pháp luật được tiếp cận dưới góc độ nào thì pháp luật vẫn là phương tiện để xác định, thiết lập trật tự xã hội có hiệu lực bất buộc và được kiểm soát, dim bảo, bảo vệ bởi quyền lực nhà nước. Với cách hiểu cổ điển này, pháp luật sử đĩ có quyền lực, hay là hiệu lực đối với xã hội là vì nó được ‘bio đảm thực hiện bởi quyên lực nhà nước. Nói cách khác, quyển lực của pháp luật xuất pháp từ quyên lực nhà nước.
Theo cách hiểu này, tôi xin đưa một ví dy, Đến ngã tư giao thông, khi có đèn đỏ, tôi dùng lại. Tại sao tôi phải dừng, Tại ? Tại sao cái quy tắc Khi có đèn đỏ phải đừng lại có hiệu lực đối với tôi. Vì có chú công an đứng ở góc đường ( và tôi không muốn mất tiền). Nếu khong có chứ công an, cái quy tắc khi có đèn đỏ phải dừng lại sẽ có thể sẽ không có giá trị đối với tôi.
'Cách quan niệm vẻ quyển lực của pháp luật như vậy không thích hợp. với yêu cầu của một nên pháp quyển. Từ xa xưa, một triết gia Hylap nổi tiếng tên là Platon đã đặt quyền lực của pháp luật trên cơ sở của lý trí. Kết luận của triết gia này là pháp luật sẽ không có một quyển lực nào nếu nó không do lý.
trí mà ra. Tức là nến pháp luật không có sự hợp lý, pháp luật sẽ không có. quyên lực đối với xã hội. Ông ví các điều luật giống như những chỉ dẫn tổng cquát của một toa thuốc mà ông bác sĩ khi di vắng để lại cho bệnh nhân.
Những L Tội tháo khoa học: TÍNH HỢP LÝ CUA VĂN BAN QUY PHAM PHÁP LUẬT chỉ dẫn trong toa thuốc có quyền lực đối với con bệnh vì chúng được coi như. là hợp với những lý lẽ mà Ong bác sĩ có thể thấy rõ, mặc dù chính con bệnh không thấy, Bất cứ khi nào một chỉ dẫn trong một toa thuốc được cho răng, khong phù hợp với khoa bọc y khoa, nó sẽ không có hiệu lực đối với người bệnh. Như vậy, quyền lực của toa thuốc đối với người bệnh không phỏi xuất hát từ ong bác sĩ mà chính từ kiến thức y khoa mà ông bác sĩ thụ dic. "Trở lại ví dụ về luật giao thong, Theo triết lý của Platon, tôi tuân thủ quy tác đến đèn đỏ thì dùng lại không phải vì quy tắc này được bảo đảm thực hiện bởi quyền lực nhà nước ( mà đại điện là chú công an).
Quy tắc này có hiệu lực đốt với tôi vì nó hợp lý. Nếu tôi không đừng lại có có thể bị tai nạn. Luật cũng như mọi quy tắc khác trong xã hội sở đĩ có hiệu lực bó buộc hành vi của con người là vì chúng hợp lý. Chúng ta sở di nghe theo mot quy.
tắc là bởi vì quy tắc đớ có lý, tức là được rút ra trên cơ sở của lý trí. Triết lý này cần phải tinh đến trong việc làm luật ở Việt Nam hiện nay. Tai sao lại có hiện tượng “ luật rên trời cuộc đời dưới đất”. Vấn đẻ chính không phải là vì người dân không có ý thức tuân thủ pháp luật mà chính à ở chỗ luật chưa phản ánh được cái hợp lý của xã hội.
Nói cách khác chính là vì luật của đời một đằng, luật của nhà nước một nẻo. Sẽ không có nghĩa gì nến đặt ra các luật trấi với cuộc sống rồi dùng sức mạnh của nhà nước buộc cuộc sống phải tuân theo. Nếu luật phù hợp với cuộc sống, chẳng cần phải tuyên truyền nhiều người dân sẽ tự động nghe theo. Cuộc sống có luật của cuộc sống th tại sao phải dat ra luật ? Bác sĩ mới.
có thể nắm bắt được các kiến thức của y khoa, điều mà không phải bệnh nhân nào cũng nấm được. Người bệnh nhân cân kiến thức y khoa được phản ánh trong các toa thuốc để chữa lành bệnh nhưng điều này chỉ có thể được rút ra bởi những người am hiểu vẻ y khoa- bác sĩ. Tương tự như vậy, không phải người dan nào cũng biết được các lẽ phải của cuộc sống mà tuần theo. Vì vậy "họ cần đến những đầu óc có trí tuệ để nút ra và chỉ dẫn cho họ những lỗi sống.
Nha lap pháp cũng rinu người bác sĩ, là người chứa bệnh cho xã hội. ‘Don thuốc của nhà lap pháp chính là các đạo luật. Đơn (huốc này chỉ có thể Hội thảo khoahọc: TINH HỢP LÝ CUA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT chữa lành bệnh cho xã hội khi nó phản ánh sự nhận thức khoa học của người kê đơn về các vấn để của xã hội. Từ tính hợp lý của pháp luật đến những yêu cầu đặt ra đối với nhà lập pháp.
Do đó, nhà lập pháp phải là những người có trí tuệ, có kiến thức khoa học về các vấn dé của cuộc sống. Khoa học mà nhà lập pháp phải có không giản đơn chỉ là luật học. Ngoài kiến thức vẻ luật học, nhà lập pháp còn phải là nhà khoa học vé lĩnh vực ma đạo luật điều chỉnh. Làm một đạo luật về gen, nhà lập pháp không những là một nhà luật học mà còn phải là một nhà sinh học.
Muốn có được những đạo luật cần thiết cho một nhà nước pháp quyền, một đạo luật được mọi người tự giác tuân thủ cần phải có một Quốc hội trí tuệ. Chỉ có một Quốc hội trí tuệ mới có thể rút ra được các quy luật hợp lý của cuộc sống. Vi vậy, Rousseau cho rằng "Muối tim ra quy tắc xd lội tốt nhất thích lợp với quốc gia thì phải có một trí tuệ uu việt. Tri tuệ dy thấy rõ mọi ham muốn của con người mà không thiên về một ham muốn nào.
Tri tuệ ấy không dink lu đến bản chất của từng người nhưng am hiểu nó thật tường tận. Hạnh phúc của trí tuệ ấy. không phụ thưộc vào chúng ta nhưng vẫn muốn chăm lo hạnh phúc cho ta. Nha lập pháp phải là người có trí tuệ để "thay zố mọi ham muốn của con người mà không thiên về một ham muốin nảo"- nhận thức được những nhu cẩu, nguyện vọng chung của dân chúng.
Trí tuệ đó sẽ hiểu được những lợi ích thiết thực của người dân. Hon nữa, không giống, như nhà hành pháp, hay hành chính làm việc trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định, nhà lập pháp phải làm việc liên quan đến mọi khía cạnh của xã hội. Luật tác động đến mọi quan hệ trong xã hội. Và trong xã hội cũng có nhiều loại luật khác nhau.
Chính vì vậy, nhà lập pháp phải là một người có trí tuệ siêu việt để nhận thức được moi vấn dé trong xã hội. Một người chí có kiến thức vé một Tinh vực nến là nhà lập pháp sẽ có tình trạng khi hoạt động trong nghị trường sẽ chỉ quan tâm đến những đạo luật " Rousseau Bàn về KE wie xã hội Bản dich của Hoàng Thành Dan). NXB Lý luệ chính, H,2004. 3 Hội thảo khoa học: TÍNH HỢP LÝ CUA VĂN BAN QUY PHAM PHÁP LUẬT thuộc chuyên môn của mình, còn những đạo luật thuộc lĩnh vực khác họ sẽ không quan tâm.
Chẳng hạn, một đại biểu Quốc hội, một chuyên gia vẻ giao thông chỉ có kiến thức vẻ môi trường sẽ tỏ ra hiệu năng khi Quốc hội làm luật thông những sẽ thu động khi Quốc hội thảo luận vẻ doanh nghiệp. Nha lập pháp cần tích hợp những ti thức thuộc nhiều lĩnh vực khoa hoe khác nhau, như triết học, sử học, tâm lý học, dân tộc học, văn học, văn hoá học, kinh tế học. i cấu trúc trong một chính thể mới để giải quyết từng vấn để riêng lẻ theo quan điểm chủ toàn: bối cach hoá vấn dé pháp lý, tim ra mối ‘quan hệ tác động qua lại- hồi quy giữa vấn để pháp IY với các bộ phận của nó ( kinh tế, văn hoá, tâm lý, sinh thái.), và giữa bối cảnh đó với bối cảnh tổng.