CHƯƠNG 1. Hãy phân tích yếu tố tâm lý của hành vi trong tình huống sau. Trên cơ sở hiểu rõ bản chất của các hành vi đó, anh (chị) hãy viết tiếp câu chuyện để có kết quả tốt đẹp nhất Trong một lần đang đánh bóng chuyền với các bạn, bạn đã đánh bóng mạnh tay và trúng vào mặt của một bạn khác (mối quan hệ với bạn này trước đó không được tốt lắm và thật tâm bạn không muốn đánh trúng vào bạn), làm bạn đó té ngã. Bạn đó nổi nóng định xông vào đánh bạn.
Trước tình huống đó bạn sẽ xử lí ra sao? 2. Cho câu truyện ngụ ngôn sau: Chim mẹ hỏi chim con trong nỗi mệt nhoài sau khi cõng con bay vượt qua giông bão: “sau này mẹ già yếu không bay được nữa, con có cứu mẹ như mẹ vừa cứu con không?” Sau 1 lúc suy nghĩ, chim con trả lời: “con sẽ cứu con của con!” Ẩn sau hình ảnh 2 con chim là hình ảnh của con người. Hãy phân tích cơ sở tâm lý hình thành nên tâm trạng và thái độ của hai nhân vật. Nếu phải hóa thân vào một trong hai đối tượng trên, bạn sẽ làm gì? 3.
Hãy phân tích cơ sở của thủ thuật trong tình huống giao tiếp sau. Em rút ra được bài học gì từ câu chuyện này Một ông chủ cửa hàng đã dùng thủ thuật để bán lô quần áo ế ẩm của mình: ông bố trí những người thân đến xếp hàng trước cửa hàng để chờ mua. Người nào sau khi mua hàng xong đều bước ra đường với vẻ mặt hớn hở. Người đi đường thấy vậy liền cùng xếp hàng để mua và chỉ trong vòng nửa ngày, ông đã bán hết lô hàng trên.
22 CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC GIAO TIẾP Mã chương M26-02 MỤC TIÊU Học sinh phát biểu được đặc điểm của các loại nghĩa, các loại ngôn ngữ thường sử dụng trong giao tiếp Học sinh có ý thức trong việc sử dụng các loại nghĩa cũng như các hình thức truyền nghĩa một cách phù hợp nhất để nâng cao hiệu quả giao tiếp NỘI DUNG CHÍNH Chương II gồm 3 bài: Bài 4: Nôi dung giao tiếp Bài 5: Ngôn ngữ trong giao tiếp Bài 6: Khoảng cách trong giao tiếp Với 3 bài này, chương II truyền tải những nội dung chính sau: Nội dung giao tiếp sẽ được truyền tải thông qua 3 phương thức cơ bản: hiển ngôn, hàm ngôn, ngụy biện. Mỗi phương thức đều có thể mang lại những thuận lợi nâng cao hiệu quả giao tiếp nhưng cũng có thể là những bất lợi ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ giữa các chủ thể Các thông điệp được các chủ thể giao tiếp truyền đi và tiếp nhận bằng phương tiện ngôn ngữ có lời, ngôn ngữ không lời; bằng hình thức giao tiếp trực tiếp hoặc giao tiếp gián tiếp. Mỗi một phương tiện ngôn ngữ, mỗi một hình thức giao tiếp đều ẩn chứa ưu, nhược điểm nên các chủ thể giao tiếp phải hết sức tỉnh táo, linh hoạt để có sự chọn lựa, sử dụng phù hợp nhất 23 Bài 4: NỘI DUNG GIAO TIẾP 4.1 NGHĨA VÀ SỰ TRUYỀN ĐẠT NGHĨA TRONG GIAO TIẾP : 4.1 Nghĩa trong ngôn ngữ giao tiếp : Ngôn ngữ giao tiếp gồm : Ngôn ngữ có lời – Giao tiếp bằng ngôn từ ; Ngôn ngữ không lời – Giao tiếp phi ngôn từ 4.1 Nghĩa của từ trong ngôn từ : Từ là một biểu tượng ám chỉ một sự vật, tư tưởng, cảm nghĩ, khái niệm Ý nghĩa của ngôn từ được tạo bởi sự kết nối từ, các cụm từ với nhau theo một hệ thống, một quy luật nào đó. Nghĩa của từ hay một tập hợp từ có hai hình thức tồn tại : + Nghĩa khách quan : Là nghĩa tự thân của từ, không phụ thuộc vào ý muốn, sở thích của một cá nhân nào (nghĩa hiển ngôn) + Nghĩa chủ quan : Là nghĩa do người sử dụng gán cho từ (nghĩa hàm ngôn).2 Nghĩa của các hành vi: Bao gồm các hành vi, biểu tượng , đồ vật, sắc thái… mang ý nghĩa biểu thị tâm lí, thái độ, tình cảm, được nhận biết bằng năm giác quan và tâm thế của đối tác giao tiếp 4.3 Một số hình thức dùng « nghĩa » đặc biệt trong ngôn từ giao tiếp 4.1 Hàm ngôn trong giao tiếp : * Hiển ngôn và hàm ngôn Hiển ngôn là lời nói có ý nghĩa biểu hiện trực tiếp ra ngoài Hàm ngôn là lời nói có ý nghĩa ẩn bên trong, đòi hỏi người nghe phải giải mã để hiểu nghĩa người nói muốn ám chỉ.
Ẩn nghĩa của câu nói phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh hay tình huống, vào kinh nghiệm, cảm xúc của người nói, đòi hỏi sự giải mã đặc biệt, vì ngoài ngôn ngữ còn có mã tâm lý xã hội Theo Ducrot, hiển ngôn là « cái người ta nói ra » , còn hàm ngôn là « cái người ta muốn nói mà không tiện nói ra » Trong cuộc sống gia đình, với bạn bè thân mật, phần lớn chúng ta dùng lối hiển ngôn (vừa tiết kiệm thời gian, vừa đảm bảo tính chính xác của thông tin…) * Tác dụng của hàm ngôn - Người nói có thể không phải chịu trách nhiệm về thông điệp. - Bộc lộ ý một cách lịch sự. 24 - Tạo ra hiệu quả mạnh mẽ, sâu sắc hơn cách nói tường minh.2 Ngụy biện trong giao tiếp * Thế nào là ngụy biện? Ngụy biện là dùng kỹ xảo lôgic để liên kết các luận cứ vào một luận điểm không phù hợp nhằm chứng minh, thuyết phục người khác tin theo một quan điểm sai trái nào đó. * Cơ cấu của ngụy biện Dùng luận cứ đúng chen lẫn luận cứ sai Dùng luận cứ đúng nhưng không đủ Dùng luận cứ không phù hợp với luận điểm * Các hình thức biểu hiện của ngụy biện - Đè nén (represion) Đó là sự chối bỏ thực tế, ngoảnh đi trước những hiện tượng đau buồn, tránh đề cập đến những vấn đề khó giải quyết, chỉ chấp nhận thấy những cái muốn thấy.
- Đền bù (compensation) Cố gắng che đậy những khuyết điểm của cá nhân bằng cách phát triển những nét tích cực trong nhân cách. - Viện lý (rationalization) Đưa ra những lý lẽ không đúng sự thật để giải thich thanh minh cho hành động, cảm xúc không tốt. - Quy chụp (phóng chiếu- projection) Gán cho người khác những ý nghĩ, lỗi lầm hay ước muốn của chúng ta. Thường chúng ta hay đổ lỗi cho số phận, cho sự hên xui.
- Thoái bộ (regression) Dùng tình cảm, hành vi trẻ con để trốn tránh trách nhiệm, tránh né thử thách. * Ảnh hưởng của ngụy biện trong giao tiếp: Ngụy biện có thể giúp chúng ta tự vệ để sống còn. Nhưng nếu lạm dụng, con người sẽ bị đánh mất niềm tin từ người khác, bản thân không phát triển được hoặc dễ lâm vào trạng thái stress. Nhận biết được chúng, chúng ta có thể giải thích được những hành vi, lập luận sai trái của mình cũng như của đối tượng giao tiếp.
Nhận biết chúng đồng thời cũng giúp chúng ta nhận rõ mình, chấp nhận mình, chấp nhận thực tiễn chung quanh. Điều này không phải dễ dàng nhưng nó sẽ giải thoát chúng ta, giúp chúng ta có những bước tiến bộ vững chắc trong cuộc sống.2 Sự truyền đạt nghĩa trong giao tiếp 25 4.1 Người phát Người phát tin, muốn truyền đạt một ý nghĩ trừu tượng cho người khác, phải bắt đầu từ việc mã hóa ý nghĩ đó. Mã hóa là quá trình chuyển từ ý nghĩ sang lời nói, chữ viết hay các dấu hiệu, ký hiệu, các phương tiện phi ngôn ngữ…để biến ý nghĩa thành thông điệp. Thông điệp sẽ được phát đi bằng các kênh truyền thông tương ứng với quá trình mã hóa.2 Người nhận Người nhận tin sẽ nhận thông điệp bằng các giác quan của mình và giải mã.
Giải mã là một quá trình không đơn giản. Thông tin chính xác chỉ xảy ra khi cả hai người phát và nhận gán cho các ký hiệu lập thành thông điệp cùng một ý nghĩa hoặc ít ra là những ý nghĩa tương tự. Sau khi giải mã, khâu cuối cùng kết thúc mạch truyền thông là thông qua phản hồi. Người nhận tín hiệu cho người phát biết rằng thông điệp đã nhận được và tín chất của sự trả lời thường cho thấy một phần chất lượng của sự thông hiểu.
Quá trình truyền đạt nghĩa trong giao tiếp là một quá trình tương hỗ và tuần hoàn. Sự phản hồi tạo cơ hội để sửa hoặc định hình lại thông điệp ban đầu. Người gửi có thể thêm hoặc thay đổi thông điệp ban đầu để làm sáng tỏ hơn và người nhận có thể thử lại việc giải mã để đảm bảo rằng thông điệp đã được ghi nhận đúng là thông điệp mà người phát có ý định muốn truyền.1 Sơ đồ về quá trình truyền đạt nghĩa trong giao tiếp 4. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC NỘI DUNG GIAO TIẾP 4.
Xác định mục đích, mục tiêu giao tiếp Để có được nội dung giao tiếp mang tính thuyết phục cao, cần phải biết rõ mình 26 « muốn gì ? » và « với ai ? » để thuyết phục có hiệu quả. Không nên ôm đồm quá nhiều mục tiêu, cần đặt những mục tiêu cụ thể để có thể kiểm tra sau buổi giao tiếp. Soạn thảo nội dung: Một bài nói chuyện thường được chia làm 3 phần : 4. Phần mở đầu Thiết lập mối quan hệ với người nghe và phác qua những nội dung lớn sẽ trình bày để mọi người dễ theo dõi.
Cần nắm được quy luật của sự chú ý: sự tập trung cao nhất của người nghe được diễn ra chỉ trong vòng 30 giây đầu tiên và 30 giây cuối cùng của bài nói. Giữa hai cao điểm đó, sự chú ý của người nghe tương đối kém, thỉnh thoảng có những đợt sóng nhô cao tùy vào khả năng gây chú ý của người nói. Cần phải tận dụng quy luật này để lôi cuốn người nghe. Những lời nói đầu tiên không chỉ đơn thuần là nhập đề mà còn phải gây được sự quan tâm và chiếm được cảm tình của mọi người.2 Phần nội dung Chứa đựng những tư tưởng hay ý kiến then chốt.
Để khắc sâu vào trí óc người nghe và lôi cuốn được họ, bài phát biểu phải được phát triển dưới dạng một chuỗi các luận điểm và luận cứ theo một logic chặt chẽ. Sự chuyển tiếp cần thực hiện một cách cẩn thận để khỏi mất sự mạch lạc của câu chuyện. Ngoài ra, cần linh hoạt sử dụng kết hợp một số thủ thuật để gây sự chú ý của người nghe như sử dụng câu hỏi gợi mở, ví dụ, số liệu thực tế,trích dẫn câu nói của những nhân vật nổi tiếng, những giai thoại, những câu chuyện khôi hài, những câu nói đùa dí dỏm…Tuy nhiên mọi cái phải đúng liều, đúng lượng và phải tập trung làm nổi bật chủ đề cần truyền tải.