Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH NÔNG DÂN VÀ TỔNG QUAN VỀ THOẠI SƠN VÀ HOẠT ĐỘNG TRỒNG LÚA HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG 1. Các khái niệm liên quan và tổng quan về tình hình nghiên cứu 1.1 Các khái niệm Với mục tiêu tìm hiểu về kinh tế hộ gia đình nông dân đồng bằng sông Cửu Long theo hướng tiếp cận nhân học, đề tài sẽ trình bày và thảo luận các khái niệm kinh tế, kinh tế hộ gia đình và khái niệm nông dân. Kinh tế Nếu xét khái niệm kinh tế ở phương diện tổ chức sản xuất thì trong kinh tế học, kinh tế chính là sự phân bổ các phương tiện (means) khan hiếm cho các mục đích (ends) cạnh tranh nhau5. Phương tiện hay còn gọi là tài nguyên (resources).
Con người sử dụng tài nguyên để thỏa mãn nhu cầu của mình trong quá trình tồn tại. Mục đích còn được gọi là các nhu cầu (wants/ needs) sử dụng tài nguyên của con người. Đứng trước vấn đề mâu thuẫn giữa nhu cầu vô hạn con người và nguồn tài nguyên sẵn có, đa số các nhà kinh tế học đều quan niệm là do con người sống trong một môi trường có nguồn tài nguyên hữu hạn nên kinh tế được hiểu như sự phân bổ nguồn tài nguyên theo khuynh hướng tiết kiệm để có thể sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất. Vì vậy, con người luôn cố gắng tìm ra những phương cách sử dụng nguồn tài nguyên một cách có lợi nhất với chi phí thấp nhất.
Như vậy theo cách hiểu này, kinh tế có nghĩa sử dụng tiết kiệm tài nguyên bằng cách tối đa hóa lợi nhuận. Kinh tế, tôn giáo, thân tộc và nhiều vấn đề khác là các chủ đề của nhiều chuyên khảo nhân học. Kinh tế từ lâu được cảm giác như bao gồm một loại hành vi con người được định nghĩa rõ ràng. Tuy nhiên, kinh tế đã có rất nhiều nghĩa đối với các nhà nhân học.
Có thể nói, các nhà nhân học đã đưa ra ít nhất 5 cách hiểu về thuật ngữ này: 1) sự nghiên cứu các phương tiện vật chất cho sự tồn tại của con người; 2) sự nghiên cứu sản 5 Marvin Harris, 1997, tr.108 11 xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ; 3) sự nghiên cứu những gì mà các nhà kinh tế học nghiên cứu (ví dụ giá cả và việc định giá); 4) việc nghiên cứu các hệ thống trao đổi có tổ chức; và 5) việc nghiên cứu sự phân bổ các phương tiện khan hiếm cho các mục đích cạnh tranh nhau. Mỗi định nghĩa đề cập đến một lĩnh vực hành vi riêng biệt.6 Theo đó, các công trình khi nghiên cứu trong lĩnh vực “kinh tế” thường tập trung vào một khía cạnh chuyên biệt: công cụ sản xuất, hệ thống kinh tế, phương thức trao đổi…Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm kinh tế nhưng có thể hiểu về khái niệm này theo định nghĩa của Karl Paul Polayi (1957). Theo đó, Ông cho là kinh tế có hai nghĩa: hình thức (formalism) và Bản chất (substantivism). Hình thức có nghĩa là nghiên cứu việc ra quyết định duy lý, và Bản chất có nghĩa hành động vật chất của việc kiếm sống.7 Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm kinh tế theo nghĩa bản chất.
Theo đó, kinh tế là hoạt động sản xuất vật chất. Nông dân: Nông dân là một chủ đề nghiên cứu quan trọng trong nhiều ngành khoa học xã hội trong đó có ngành Dân tộc học/ Nhân học do vậy khái niệm này đã được nhiều công trình đề cập đến. Eric Wolf, nhà nhân học nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu về nông dân đã đưa ra cách hiểu về khái niệm nông dân theo nghĩa peasants trong sự phân biệt với khái niệm cư dân “nguyên thủy” (primitives), đối tượng truyền thống của ngành Nhân học và khái niệm nông dân theo nghĩa farmers. Theo đó, cả ba đối tượng đều là người trồng trọt.
Tuy nhiên nông dân (peasants) khác với cư dân “nguyên thủy” ở chỗ là trong các xã hội “nguyên thủy” thặng dư được trao đổi trực tiếp giữa các nhóm hay giữa các thành viên trong các nhóm trong khi đó trong các xã hội nông dân, các nông dân (peasants) sản xuất nhiều hơn mức cần thiết để cung cấp cho “một nhóm thống trị sử dụng thặng dư để sống và phân phối lại cho các nhóm trong xã hội mà không canh tác nhưng phải được nuôi để đổi lấy những loại hàng hóa và dịch vụ”8. Như vậy, theo cách 6 Burling, Robbins, 1968.“Maximization Theories and the Study of Economic Anthropology”.In LeClair, Edward E. Economic Anthropology: Readings in Theory and Analysis. 7 Theo Trung tâm từ điển học (2010) kinh tế có hai nghĩa; là một danh từ kinh tế là tổng thể nói chung các hoạt động sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất cho con người và xã hội và là một tính từ kinh tế có tác dụng mang lại hiệu quả tương đối lớn so với sức người, của của và thời gian bỏ ra tương đối không nhiều (tr.
Eric (1966), Peasants, Prentice – Hall, New Jersey, tr.4 12 hiểu này, nông dân được phân biệt dựa trên mối quan hệ cấu trúc xã hội, đó là yếu tố giai cấp, thặng dư, hay thành thị. Sự xuất hiện của nhà nước đánh dấu sự chuyển đổi của cư dân trồng trọt sang nông dân. Nông dân trong mối quan hệ này là kẻ bề dưới. Hay nói cách khác nông dân tồn tại trong một nhà nước quốc gia9.
Ngoài ra, nông dân theo nghĩa peasants khác với nông dân theo nghĩa farmers ở chỗ trong khi các nông dân theo nghĩa farmers là các chủ trang trại, một đơn vị kinh doanh, kiếm lợi nhuận bằng cách bán sản phẩm ra thị trường, còn nông dân theo nghĩa peasants không điều hành một công ty theo nghĩa kinh tế mà điều hành một hộ gia đình, vốn không phải là mối quan tâm của kinh tế học10. Peasants nói đến một vị trí xã hội trong khi farmers đề cập đến một nghề nghiệp. Trong xã hội “peasant”, sản xuất dựa trên “nhu cầu để tồn tại và những đòi hỏi gắn với địa vị kinh tế - xã hội trong cộng đồng. Trong khi ở “farmer,” sản xuất lại dựa theo tính duy lý về kinh tế nhằm đáp ứng điều kiện của thị trường”11.
Trong tiếng Việt, cả hai thuật ngữ đều được dịch ra là nông dân. Trong bối cảnh của Việt Nam, có nghiên cứu cho là nông thôn Việt Nam có cả nông dân sản xuất hàng hóa (Akhram-Lodhi, 2005) và một số đông nông dân sản xuất tự cung tự cấp12. Trong bối cảnh nghiên cứu về hành vi sản xuất của nông dân trồng lúa, chúng tôi chủ yếu dựa trên cơ sở nghề nghiệp để định nghĩa nông dân. Theo đó, nông dân được đề cập trong đề tài là những người kiếm sống chủ yếu bằng hình thức canh tác nông nghiệp, có sự tham gia trực tiếp của lao động gia đình trong quá trình sản xuất, và tham gia một phần hay hoàn toàn vào sản xuất thị trường.
Như vậy, khái niệm nông dân trong nghiên cứu của chúng tôi tương đương với khái niệm farmer trong truyền thống học thuật Tây phương. Nông dân theo nghĩa này không chỉ còn đặc trưng bởi tính tự cung tự cấp mà ở 9 Potter, Dias và Foster, 1967, Goldschidt, 1997 dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình (2007), “Hồi kết của xã hội nông dân: một số thảo luận xuanh quanh khái niệm nông dân và những bất cập khi thao tác hóa khái niệm,” Tạp chí Dân tộc học, số 4, tr. Eric (1966), Peasants, Prentice – Hall, New Jersey, tr.2 11 Nguyễn Thị Thanh Bình (2007), “Hồi kết của xã hội nông dân: một số thảo luận xuanh quanh khái niệm nông dân và những bất cập khi thao tác hóa khái niệm,” Tạp chí Dân tộc học, số 4, tr.49 12 (Nguyễn Văn Sửu, 2002) dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình (2007), “Hồi kết của xã hội nông dân: một số thảo luận xuanh quanh khái niệm nông dân và những bất cập khi thao tác hóa khái niệm,” Tạp chí Dân tộc học, số 4, tr.53 13 đây nông dân là những người sản xuất nông nghiệp theo định hướng thị trường. Tuy nhiên, khái niệm nông dân trong trường hợp nghiên cứu của chúng tôi khác với thuật ngữ farmer ở chỗ lao động gia đình đóng vai trò chủ yếu và hoạt động kinh tế diễn ra trong quy mô hộ gia đình.
Kinh tế hộ gia đình: Để làm rõ nghĩa kinh tế hộ gia đình, chúng ta cần phân biệt khái niệm gia đình và hộ gia đình. Vũ Tuấn Anh và Trần Thị Vân Anh (1997) dựa trên ba tiêu chí: quan hệ hôn nhân, huyết thống và thân tộc; cư trú chung; có chung cơ sở kinh tế để phân biệt hộ và gia đình. Theo đó, gia đình dựa trên tiêu chí quan hệ hôn nhân, huyết thống; trong khi phân biệt hộ chủ yếu dựa vào tiêu chí cư trú và cơ sở kinh tế (tr. Đỗ Thái Đồng (1994) cho là trong tuyệt đại bộ phận trường hợp, khái niệm nông hộ của Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng “trùng khít với khái niệm gia đình nông dân.” 13 Theo quan điểm của chúng tôi, gia đình và hộ gia đình là hai khái niệm có sự đồng nhất trong nhiều trường hợp tuy nhiên giữa chúng có một sự khác biệt rõ ràng.
Hộ gia đình có thể bao gồm một cá nhân hay nhiều cá nhân có hoặc không có quan hệ huyết thống hay hôn nhân. Cơ sở nền tảng của hộ gia đình là cùng nơi cư trú và cùng chung kinh tế. Trong khi gia đình được xác định dựa trên quan hệ huyết thống và hôn nhân.14 Kinh tế hộ gia đình đã được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo hướng tiếp cận nhưng có chung một nền tảng đó là kinh tế diễn ra ở quy mô “gia đình” hay trên nền tảng các mối quan hệ gia đình. Kinh tế hộ gia đình là việc “đầu tư và tích lũy nội tại, tự hạch toán và kinh doanh, tự cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng.
đảm nhận các nghĩa vụ đối với Nhà nước” (Đỗ Thái Đồng 1994), “tổ chức sản xuất kinh doanh” (Nguyễn Hữu 13 Đỗ Thái Đồng 1994. “Kinh tế hộ gia đình và những xu thế mới trong hợp tác hóa ở đồng bằng sông Cửu Long”.12 14 Hộ có thể là một gia đình hạt nhân, một gia đình mở rộng hay một đại gia đình. Một hộ có thể có nhiều gia đình hoặc không có một gia đình nào cả, ngược lại, một gia đình có thể trải rộng thành nhiều hộ. Ở Việt Nam, hộ gia đình được quản lý bằng sổ đăng ký hộ khẩu, trong đó ghi rõ số nhân khẩu, chủ hộ và quan hệ giữa các thành viên với chủ hộ.