mở đầu cuộc xâm lược chính thức vào nước ta, Nam Kỳ Lục tỉnh đã trở thành vùng nhượng địa cho Pháp. Bắt đầu từ 1867 cho đến ngót 100 năm sau đó, Nam Bộ vừa là địa bàn thử nghiệm đầu tiên của chế độ thực dân, vừa là hình ảnh của “nước Pháp thu nhỏ” tại Đông Dương. Chính sự xâm lăng của thực dân Pháp, cùng với đó là sự xuất hiện của mô hình văn hoá- xã hội- kinh tế mới đã gây tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Nam Kỳ trong đó có văn học. Trước hết, phải kê đến việc chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi ở Nam Kỳ.
Ngay sau khi hoà ước Nhâm Tuất (1862) được kí kết, chữ quốc ngữ đã được thực dân Pháp chọn làm phương tiện giao tiếp thay thế cho chữ Hán. Mục đích của thực dân Pháp là cách ly người dân khỏi các sĩ phu nhà nho yêu nước. Mặt khác, chữ quốc ngữ La-tinh lại đồng dạng với chữ Pháp, do vậy dé đưa người dân An Nam hướng theo văn hoá Pháp, xoá bỏ truyền thống văn hoá của dân tộc. Dé chữ quốc ngữ được phô biến rộng rãi ở Nam Kỳ, thực dân Pháp đã đưa ra rất nhiều nghị định, mở các trường dạy chữ quốc ngữ với nhiều chính sách ưu đãi cho giáo viên, học sinh; chính sách khuyến khích đội ngũ giúp việc đọc chữ quốc ngữ.
Việc phô biến chữ quốc ngữ gắn liền với việc tuyên truyền tư tưởng mới, với một nền văn hoá mới. So với chữ Hán và chữ Nôm, chữ quốc ngữ dễ đọc hơn, dễ viết hơn. Bởi vậy, việc dùng chữ quốc ngữ trong đời sống văn hoá tinh thần đã thực sự tạo nên một cuộc cách mạng- nên văn hoá dân chủ đang dân thay thê nên văn hoá bác học. Việc 20 sử dụng chữ quốc ngữ trong sáng tác văn học mà trước hết là sáng tác tiểu thuyết đã tạo điều kiện để tiểu thuyết đến với đông đảo quần chúng hon.
Như vậy, từ những năm cuối thế kỷ XIX, chữ quốc ngữ dưới sự bảo trợ của thực dân Pháp, đã có điều kiện phát triển nhanh hơn trước, mặc dù vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các sĩ phu nho học. Đến đầu thế kỷ XX, nhờ sự kích thích của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1908) cổ xuy cho sự phát triển rộng rãi của chữ quốc ngữ mà nhiều người dân Nam Bộ đã thấy đựơc tiện ích của thứ chữ này. Chữ quốc ngữ nhanh chóng phát triển, trở thành thứ chữ của báo chí, văn học đáp ứng yêu cầu của một bộ phận công chúng mới- công chúng thị dân ở Nam Bộ. Dưới chính sách cai trị của thực dân Pháp, một nên giáo dục mới dần được hình thành ở miền Nam Việt Nam.
Giáo dục phong kiến dần dần bị đây lùi và xoá bỏ, thay vào đó là nền giáo dục mới- giáo duc Pháp- Việt dang dan trở nên ôn định. So với nền giáo dục phong kiến nền giáo dục mới có nhiều tiến bộ đáng ké: chương trình, nội dung học tập phong phú, toàn diện, thời gian dao tạo nhanh hơn.Đội ngũ tri thức, sản phẩm của nền giáo dục mới không chi đáp ứng mục tiêu học hành dé thi cử làm quan mà còn hướng đến rất nhiều các ngành nghề khác. Một lớp trí thức “tân học” đã xuất hiện ở đầu thế kỷ XX. Họ là con đẻ của nền giáo dục mới, những kiến thức mà họ tiếp thu được sẽ chuẩn bị hoặc gợi ý cho họ những ứng xử mới với thời cuộc.
Song hành với quá trình truyền bá chữ quốc ngữ là sự phát triển của báo chí ở Nam Bộ. Từ tờ Gia Định báo- tờ công báo đầu tiên ra đời năm 1865 đến năm1932 ở Sài Gòn đã phát hành trên 50 tờ báo-tạp chí. Báo chí ngay từ thời kỳ đầu này đã là mảnh đất tốt cho văn chương, mà đặc biệt là tiêu thuyết. Các tiểu thuyết ngăn dài được in nhiều kỳ theo hình thức tiểu phẩm (fuelliton), bao gồm cả các tiểu thuyết sáng tác lẫn các tiểu thuyết dịch.
Phần lớn các tiêu thuyết gia Nam Bộ đều là các nhà viết báo như: Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Muu, Phú Đức, Buu Dinh.Bao chi với đặc thù của nó là cập nhật và không thé không quan tâm đến độc giả có anh hưởng lớn đến lối viết tiểu thuyết của các nhà văn thời kỳ này. Đặc biệt, sự phát triên của báo chí, với mục đích hàng đâu là cung câp thông tin cho độc giả mà chủ 21 yếu là độc giả ở các đô thị, đã góp phan to lớn trong việc cải tiến câu văn xuôi tiếng Việt, chính xác hoá cách sử dụng chữ quốc ngữ. Những hiện tượng viết sai chính tả hay sử dụng lối viết văn biền ngẫu ngày càng ít đi, cách viết câu văn sáng sủa của cú pháp văn xuôi tiếng Pháp ngày càng trở nên thông dụng. Bên cạnh sự phát triển của báo chí, số lượng các nhà in, nhà xuất bản ở Sài Gòn ngày càng nhiều.
Từ 1862 đến 1932 ở Sài Gòn Chợ Lớn có tới 74 nhà in khác nhau [24,43]. Với số lượng các nhà in, xuất bản ngày càng nhiều tiêu thuyết văn xuôi Quốc ngữ ở Nam Bộ có điều kiện dé in ấn, phát hành, khoảng cách giữa công chúng và nhà văn được thu ngắn lại, độc giả có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc đọc tiểu thuyết và nhà văn vì thế cũng bị thách thức nhiều hơn khi sáng tác. Sinh hoạt văn hoá có ảnh hưởng lớn nhất tới tiêu thuyết văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ thời kỳ này chính là hoạt động dịch thuật, phiên âm, sưu tầm, nghiên cứu của các học giả Tây học như: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của. Các công trình nghiên cứu, dịch thuật như Dai Nam quốc âm tự vị hay Ngôn ngữ Đông Dương, Đại Nam quốc sử diễn ca.
đặt dau mốc đầu tiên cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ, văn học bằng chữ quốc ngữ ở ta, đồng thời cung cấp những tư liệu quý báu cho việc khảo cứu ngôn ngữ đương thời. Bên cạnh đó, còn phải chú ý đến phong trào dịch thuật tiêu thuyết cô điển Trung Hoa với các dich giả như Nguyễn Chánh Sắt, Phụng Hoàng Sang, Nguyễn An Khương, Nguyễn Công Kiéu.va tiêu thuyết phương Tây với những cái tên như Trương Minh Ký, Trần Chánh Chiếu, Trần Thái Nguyên. Sự ra đời với số lượng lớn các tiểu thuyết dịch trong giai đoạn sơ khởi này có ý nghĩa lớn với đời sống thể loại cả về phía người đọc và người sáng tác. Trong khi người đọc dần chuyền hướng tiếp cận một thể loại đáp ứng được nhu cầu của họ cả về mặt hình thức và nội dung thì người sáng tác có cơ hội để học tập những kinh nghiệm làm tiêu thuyết ở hai nền văn học lớn của thế giới là Trung Quốc và Pháp.
Ảnh hưởng của phong trào này đến sự phát triển của thể loại tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là không thể phủ nhận, và sẽ tiêp tục được dé cập tới trong những phân sau của luận văn. 22 Ngành in, ngành xuất bản cùng với những hoạt động mang tính chất thương mại sách báo phát triển cũng là yếu tố có liên quan mật thiết đến sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết quốc ngữ. Ngoài việc được đăng nhiều kỳ trên các bài báo, rat nhiều tiểu thuyết ra đời dưới dạng in thành sách. Do vậy, vai trò của các nhà in, nhà xuất bản cũng rat quan trọng.
Đô thị ngày càng phát triển, lực lượng công chúng đông kéo theo nhu cầu thưởng thức văn học, nhất là tiểu thuyết ngày càng lớn. Nhà văn kiếm sống bằng nghề viết văn, nhà xuất bản làm giàu bang nghề in an. Nam Kỳ chính là đất khởi phát của tiêu thuyết, là nơi tiêu thuyết phát triển nhanh chóng trong ba thập niên đầu của thé kỷ XX. Ở Nam Kỳ, những yếu tố như: đô thị hiện đại, sự phổ biến và phát triển rộng rãi của nền chữ quốc ngữ, báo chí, dịch thuật, ngành in, hoạt động thương mại sách báo.xuất hiện sớm nhất trong cả nước.
Những yếu tố này có sự cộng hưởng qua lại với nhau chính là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết, của nền văn học hiện đại. Khi đi vào phân tích các tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ của tác giả Hồ Biểu Chánh- một đại diện xuất sắc của văn xuôi tự sự Nam Bộ lúc bấy giờ chúng ta sẽ thay được những biểu hiện bước đầu của quá trình hiện đại hoá một nền văn học trong một bối cảnh mới, đồng thời, cả những biểu hiện của cái cũ vẫn chưa mat han, thé hiện tính giao thời cua văn học ở giai đoạn nay. Đặc điểm của văn hoc bằng chữ quốc ngữ ở Nam Bộ dau thế kỷ XX Phải khang định, cuộc xâm lược của thực dan Pháp cuối thế ky XIX đã dẫn đến nhiều thay đổi lớn lao trên cả nước nói chung và mảnh đất Nam Kỳ nói riêng. Tuy nhiên quá trình hiện đại hoá, Âu hoá diễn ra ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mang nhiều nét đặc thù, riêng biệt.
Thứ nhất, ngay cả khi một nền kinh tế tư bản đã bắt đầu hình thành ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX thì những trào lưu mới của thế giới cũng chưa thể du nhập thông qua giai cấp tư sản dân tộc. Tư tưởng dân chủ châu Âu đã được chuyền tải bằng tân thư vào Việt Nam nhờ các nhà nho, do vậy không thê giữ nguyên tinh thần của nó. Sự tiếp nhận văn học Pháp đầu thế ky XX, theo Dang Anh Dao có mở dau 23 là một sự tiếp nhận đường vòng thông qua những bản dịch Trung Quốc. Do nhu cầu tiếp nhận và do công cụ tiếp nhận nên ảnh hưởng đầu tiên dễ nhận thấy là ảnh hưởng của các tác gia thế kỷ Ánh sáng.
Văn học Pháp phần cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vào nước ta chủ yếu qua con đường giáo dục của các nhà trường. Thứ hai, giai cấp tư sản, nòng cốt của cuộc cách mạng đổi mới lại có rất nhiều đặc thù: tính chat tư sản kiêm địa chủ, thé lực kinh tế yếu đuối và có mối quan hệ chặt chẽ với tư bản Pháp trong công cuộc kinh doanh, tinh thần dân tộc bạc nhược. Đặc điểm này khiến giai cấp tư sản không gánh được sứ mạng lịch sử của mình là làm cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Thứ ba, về văn hoá, với âm mưu “đồng hoá” núp dưới chiêu bài “khai hoá văn minh”, thực dân Pháp đã du nhập văn hóa Pháp đề đây lùi, thay thế dần văn hoá cổ truyền của dân tộc trên mảnh đất Nam Kỳ.