Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐÀI LOAN Nghiên cứu về chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay không phải là một chủ đề mới. Chủ đề này đã được các nhà khoa học, học giả đặc biệt quan tâm và đã tiến hành nghiên cứu trong những năm gần đây. Cùng với quá trình phát triển của đất nước, ngành CNTT cũng nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này mới chỉ chủ yếu tập trung đến vai trò của ngành CNTT đặt trong bối cảnh cả nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chưa đặt ngành CNTT trong chuỗi cung ứng toàn cầu, trong sự phân công chuyên môn hoá quốc tế.
Kinh nghiệm thành công của các nước có đặc điểm phát triển tương tự cũng chưa được đề cập nhiều, do đó các đề xuất giải pháp chính sách theo hướng tiếp cận này cũng còn nhiều thiếu sót. Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam chính là mục tiêu của luận án. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Thứ nhất, nghiên cứu đến các vấn đề lý thuyết về chuỗi cung ứng toàn c̀u và đặc điểm của chuỗi. Lê Thị Ái Lâm chủ biên (2012) đã cung cấp hệ thống cơ sở lý thuyết về mạng sản xuất toàn cầu.
Tác giả cũng đưa ra phân tích hai ví dụ là mạng sản xuất toàn cầu trong ngành điện tử và ngành dệt may nhằm nhấn mạnh việc tham gia vào các mạng sản xuất toàn cầu là con đường nhanh và hiệu quả đi tới thịnh vượng của các doanh nghiệp cũng như quốc gia. Cù Chí Lợi (2011) cũng đề cập khá chi tiết đến khái niệm, bản chất, loại hình, cấu trúc của các mạng sản xuất quốc tế. Các tác giả đã đề xuất hàng loạt kiến nghị, giải pháp để Việt Nam tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu. Nguyễn Thị Nhiễu (2007) đã đề xuất chiến lược tham gia mạng sản xuất quốc tế cho doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu dành phần lớn công việc vào phân tích bối cảnh và điều kiện mới của môi trường kinh doanh quốc tế và sự phát triển mới của các mạng sản xuất quốc tế/chuỗi giá trị toàn cầu, các hạn chế của Việt 17 Nam, thay vì xác định cơ chế tham gia của các nước, nhất là nước đang phát triển, vào mạng sản xuất quốc tế. Bùi Thái Quyên (2014) đã kiến nghị nhiều biện pháp để tham gia mạng. Tuy nhiên, tác giả này mới chỉ dựa trên cơ sở thực tiễn với việc mô tả về các mạng sản xuất khu vực mà không chỉ ra cơ sở lý luận của các biện pháp đó. Bên cạnh đó, có một số công trình trong nước đã nghiên cứu về biện pháp cụ thể tham gia mạng sản xuất toàn cầu, song phần lớn lại chỉ tập trung nghiên cứu một vài biện pháp nhất định, chứ không nghiên cứu hệ thống biện pháp.
Cụ thể là: - Trần Văn Tùng (2007) đã có những giới thiệu sơ lược về mạng sản xuất quốc tế (trang 116-119) và thiên về mô tả sự phát triển của ngành điện tử và chế tạo ô tô ở một số nước Đông Á, hơn là trình bày cách mà các nước đó tham gia như thế nào. Cuốn sách cũng không chỉ ra cơ sở lý luận và vạch ra khung chính sách tham gia. - Phạm Thị Thanh Hồng (2014), đã chỉ ra một số biện pháp hữu hiệu để tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu và nâng cao vị thế trong mạng, đó là phát triển các cụm liên kết ngành. Song, không thấy nghiên cứu này đề cập có hệ thống đến các biện pháp khác.
- Nguyễn Việt Khôi (2011) đã chỉ ra cách thức để một quốc gia tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, đó là thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty đa quốc gia và trở thành người cung ứng trong mạng sản xuất của các công ty này. Song, không thấy nghiên cứu này đề cập có hệ thống đến các biện pháp khác. Ngoài ra, có một số công bố dưới dạng các bài báo khoa học ngắn đề cập đến kinh nghiệm của một vài nước Đông Á tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở một số ngành nhất định. Đó là các công trình của Vũ Đức Thanh (2007), Trần Văn Tùng và Vũ Đức Thanh (2007), Nguyễn Hoàng Ánh (2009).
Các công trình này thuần túy mô tả sự tham gia, chứ không đề cập đến chính sách, chiến lược để tham gia. Các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Heribert Dieter (2009) chỉ ra vai trò quan trọng của chính sách thương mại và các biện pháp tự do hóa thương mại. Nghiên cứu cũng đề cập tới kinh nghiệm của châu Âu nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của thương mại xuyên biên giới và những lợi thế của mạng lưới xuyên quốc gia.Yusuf và cộng sự (2004) khảo sát các nguồn 18 lực tăng trưởng kinh tế tại khu vực Đông Á.
Không chỉ đề cập tới nhiều vấn đề liên quan tới mạng lưới sản xuất toàn cầu ở nhiều ngành như công nghiệp điện tử, phụ tùng ô tô, vận tải; các nghiên cứu trong sách còn nêu lên những thách thức cũng như triển vọng phát triển của các doanh nghiệp trong khu vực Đông Á trong thời kỳ hội nhập kinh tế. Đặc biệt hơn, những thách thức các nhà cung cấp tại khu vực này phải đối mặt khi chuỗi cung ứng toàn cầu phát triển cũng được chỉ ra ngay trong nghiên cứu thứ 2 của sách. Krinda (2005) nhấn mạnh một điều: “Chừng nào quá trình sản xuất và phân phối còn được đặt ở mọi nơi trên thế giới thì chừng đó chuỗi cung ứng còn phải tiếp tục vận hành.” Tác giả cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dự đoán nhu cầu khách hàng, tối ưu hóa vận chuyển hàng hóa và quản lý một mạng lưới mở rộng; để làm được những điều này đầu tư vào minh bạch hóa chuỗi cung ứng, dự báo nhu cầu và phân tích dữ liệu và lên kế hoạch vận hành, tiêu thụ là rất cần thiết. Susitar Asree (2010) đã nêu lên điểm quan trọng mấu chốt đối với các công ty hiện nay trong việc giảm thiểu tác động của những thách thức toàn cầu như sự bất ổn định về công nghệ và kinh tế, sự quốc tế hóa, hay sự bảo hộ về sở hữu trí tuệ đó là việc chọn lựa thiết kế chuỗi cung ứng một cách chính xác.
Luận án cũng đánh giá các tác động và ảnh hưởng của những thách thức trên lên việc thiết kế chuỗi cung ứng. Wu (2010) phân tích những ảnh hưởng do sự tăng trưởng vượt bậc của Trung Quốc lên mạng lưới sản xuất khu vực Đông Á, đặc biệt trong lĩnh vực CNTT và truyền thông. Cụ thể hơn, luận án phân tích những thay đổi trong nền công nghiệp CNTT và truyền thông của Trung Quốc đã định hình lại mạng lưới sản xuất tại khu vực này trong bối cảnh Nhật Bản đã từng nắm giữ vai trò chính một thời gian dài trước đó. Tuy nhiên, trái với kỳ vọng ban đầu, kết thúc luận án tác giả vẫn đưa ra kết luận: vẫn còn quá sớm để kết luận rằng trật tự thị trường lao động đã thay đổi và vị trí dẫn đầu của Trung Quốc cả trên phương diện nguồn vốn FDI lớn hay sự cung cấp không ngừng các tiến bộ kỹ thuật cho thị trường.
Với các mối quan hệ quốc tế và trong khu vực phức tạp Trung Quốc đang theo đuổi hiện nay thì có ảnh hưởng rất lớn tới việc Trung Quốc trở thành nước dẫn đầu trong mạng lưới sản xuất khu vực Đông Á. 19 Bamber và cộng sự (2014) đã phân tích các yếu tố cụ thể ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các quốc gia đang phát triển khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, và sự khác nhau của các yếu tố này trong 4 khu vực chính của nền kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng, chế tạo sản xuất và dịch vụ thuê ngoài. Mặc dù hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu cho phép các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển tham gia vào thương mại quốc tế mà không cần phải hoàn thiện toàn bộ khả năng sản xuất một sản phẩm hay dịch vụ, nhưng cũng sẽ không dễ dàng có được sự phát triển thương mại tích cực nếu không có các chính sách phù hợp để nâng cao năng lực sản xuất và bảo đảm tăng trưởng định mức. Việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp cung ứng nội địa có thể đáp ứng đủ những yêu cầu của chuỗi giá trị toàn cầu bao gồm năng lực sản xuất, cơ sở hạ tầng và dịch vụ, môi trường kinh doanh, thương mại và chính sách đầu tư là rất cần thiết.
Báo cáo cũng chỉ ra sự cần thiết trong phân tích các dữ liệu chỉ số về chính sách thương mại để đạt được xuất phát điểm cần thiết cho những động thái giúp các quốc gia này tham gia và hưởng lợi từ chuỗi giá trị toàn cầu. Barrientos và cộng sự (2010) nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và xã hội trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Trong phân tích của mình, các tác giả đã đề cập tới việc một thách thức quan trọng trong việc nâng cao vị thế của cả doanh nghiệp và người lao động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu mà ở đó các doanh nghiệp dẫn đầu đóng vai trò đầu tàu. Bài viết của các tác giả phát triển một khung xác định mối liên kết giữa tăng trưởng kinh tế của các doanh nghiệp và phát triển xã hội của người lao động.
Các nghiên cứu trong bài viết chỉ ra rằng tăng trưởng doanh nghiệp là tất nhiên nhưng chưa thực sự dẫn tới sự phát triển cho người lao động. Các kịch bản khác nhau nhằm cân nhắc ở mức độ nào cả doanh nghiệp và người lao động đều được hưởng lợi trong quá trình phát triển và tham gia vào chuỗi đã được các tác giả đề ra. Oikawa (2008) nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu thực tiễn trong ngành công nghiệp ô tô và điện tử, cụ thể là cơ cấu phân phối giá trị quốc tế trong các nền kinh tế Đông Á và Mỹ. Lý thuyết kinh doanh chính thống giải thích lợi nhuận từ thương mại, tuy nhiên phương thức tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhấn mạnh lợi ích bất bình đẳng của toàn cầu hóa đối với các đối tác thương mại.