Luận văn kiến thức thái độ về sàng lọc chẩn đoán trước sinh và lựa chọn chọc hút dịch ối của các thai phụ 35 tuổi có chỉ định chọc hút dịch ối tại 2 trung tâm chẩn đoán trước sinh ở việt nam năm 2016

Luận văn nghiên cứu kiến thức, thái độ về sàng lọc trước sinh và chọc hút dịch ối ở thai phụ 35 tuổi tại hai trung tâm chẩn đoán Việt Nam năm 2016.

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về sàng lọc trước sinh và chọc hút dịch ối

Sàng lọc trước sinhchọc hút dịch ối là hai phương pháp quan trọng trong chẩn đoán tiền sản, giúp phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể ở thai nhi. Nghiên cứu này tập trung vào thai phụ 35 tuổi tại Việt Nam năm 2016, nhằm đánh giá kiến thứcthái độ của họ về các phương pháp này. Sàng lọc trước sinh bao gồm các xét nghiệm như siêu âm, Double Test, và Triple Test, trong khi chọc hút dịch ối là phương pháp xâm lấn để chẩn đoán chính xác các bất thường di truyền. Việc hiểu rõ về các phương pháp này giúp thai phụ đưa ra quyết định sáng suốt, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

1.1. Khái niệm và quy trình sàng lọc trước sinh

Sàng lọc trước sinh là quá trình sử dụng các phương pháp không xâm lấn để phát hiện nguy cơ dị tật bẩm sinh ở thai nhi. Các phương pháp phổ biến bao gồm siêu âm đo độ mờ da gáy, xét nghiệm huyết thanh mẹ (Double Test, Triple Test), và siêu âm hình thái. Quy trình này thường được thực hiện từ tuần thứ 11 đến tuần thứ 20 của thai kỳ. Thai phụ 35 tuổi được khuyến cáo thực hiện sàng lọc do nguy cơ cao sinh con mắc hội chứng Down và các bất thường nhiễm sắc thể khác.

1.2. Khái niệm và quy trình chọc hút dịch ối

Chọc hút dịch ối là phương pháp xâm lấn được thực hiện khi kết quả sàng lọc trước sinh cho thấy nguy cơ cao. Quy trình này được thực hiện từ tuần thứ 16 đến tuần thứ 20, lấy mẫu dịch ối để phân tích nhiễm sắc thể và gen. Mặc dù có rủi ro nhỏ như sảy thai, phương pháp này cung cấp kết quả chính xác về các bất thường di truyền. Thai phụ 35 tuổi thường được chỉ định thực hiện chọc hút dịch ối do nguy cơ cao hơn so với nhóm tuổi khác.

II. Kiến thức và thái độ của thai phụ về sàng lọc trước sinh

Nghiên cứu cho thấy kiến thức sàng lọc trước sinh của thai phụ 35 tuổi tại Việt Nam năm 2016 còn hạn chế. Chỉ 63% thai phụ có kiến thức đúng về các phương pháp sàng lọc. Tỷ lệ này cao hơn ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương (78.5%) so với Bệnh viện Đại học Y dược Huế (21%). Thái độ sàng lọc trước sinh của thai phụ khá tích cực, với 78% đồng ý thực hiện sàng lọc. Tuy nhiên, nhiều thai phụ vẫn chưa hiểu rõ về lợi ích và quy trình của các phương pháp này, dẫn đến việc bỏ qua các giai đoạn sàng lọc quan trọng.

2.1. Kiến thức về sàng lọc trước sinh

Kiến thức sàng lọc trước sinh của thai phụ tập trung vào các phương pháp cơ bản như siêu âm và xét nghiệm huyết thanh mẹ. Tuy nhiên, nhiều thai phụ không hiểu rõ về các bước tiếp theo khi kết quả sàng lọc cho thấy nguy cơ cao. Điều này dẫn đến việc họ không thực hiện các phương pháp chẩn đoán xâm lấn như chọc hút dịch ối, làm giảm hiệu quả của chương trình sàng lọc.

2.2. Thái độ về sàng lọc trước sinh

Thái độ sàng lọc trước sinh của thai phụ khá tích cực, với phần lớn đồng ý thực hiện các phương pháp sàng lọc. Tuy nhiên, một số thai phụ vẫn lo ngại về chi phí và rủi ro liên quan, đặc biệt là với phương pháp chọc hút dịch ối. Việc tăng cường tư vấn và giáo dục về lợi ích của sàng lọc trước sinh là cần thiết để cải thiện thái độ và hành vi của thai phụ.

III. Kiến thức và thái độ của thai phụ về chọc hút dịch ối

Kiến thức chọc hút dịch ối của thai phụ 35 tuổi còn hạn chế, với nhiều người không hiểu rõ về quy trình và lợi ích của phương pháp này. Thái độ chọc hút dịch ối của thai phụ khá đa dạng, với một số đồng ý thực hiện do lo ngại về nguy cơ dị tật bẩm sinh, trong khi số khác từ chối vì sợ rủi ro. Nghiên cứu chỉ ra rằng thai phụ có kiến thức đúng về chọc hút dịch ối có khả năng thực hiện phương pháp này cao gấp 7.62 lần so với những người không có kiến thức.

3.1. Kiến thức về chọc hút dịch ối

Kiến thức chọc hút dịch ối của thai phụ tập trung vào các thông tin cơ bản như quy trình và rủi ro. Tuy nhiên, nhiều thai phụ không hiểu rõ về lợi ích của phương pháp này trong việc chẩn đoán chính xác các bất thường di truyền. Điều này dẫn đến việc họ từ chối thực hiện, làm giảm hiệu quả của chương trình chẩn đoán tiền sản.

3.2. Thái độ về chọc hút dịch ối

Thái độ chọc hút dịch ối của thai phụ khá đa dạng, với một số đồng ý thực hiện do lo ngại về nguy cơ dị tật bẩm sinh, trong khi số khác từ chối vì sợ rủi ro. Nghiên cứu chỉ ra rằng thai phụ có thái độ tích cực về chọc hút dịch ối có khả năng thực hiện phương pháp này cao gấp 21.97 lần so với những người có thái độ tiêu cực.

IV. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọc hút dịch ối

Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọc hút dịch ối của thai phụ 35 tuổi tại Việt Nam năm 2016. Các yếu tố bao gồm kiến thức, thái độ, trình độ học vấn, thu nhập gia đình, và tiền sử sinh con bị dị tật bẩm sinh. Thai phụ có kiến thức đúng về chọc hút dịch ối và thái độ tích cực có khả năng thực hiện phương pháp này cao hơn. Ngoài ra, trình độ đại học và thu nhập gia đình trên 5 triệu đồng/tháng cũng là các yếu tố quan trọng.

4.1. Yếu tố cá nhân và gia đình

Các yếu tố cá nhân như trình độ học vấn và thu nhập gia đình ảnh hưởng đáng kể đến quyết định chọc hút dịch ối. Thai phụ có trình độ đại học và thu nhập cao thường có kiến thức tốt hơn và sẵn sàng thực hiện phương pháp này. Tiền sử sinh con bị dị tật bẩm sinh cũng là yếu tố quan trọng, khiến thai phụ quyết định thực hiện chọc hút dịch ối để đảm bảo sức khỏe thai nhi.

4.2. Yếu tố cung cấp dịch vụ y tế

Chất lượng tư vấn và dịch vụ y tế cũng ảnh hưởng đến quyết định của thai phụ. Các trung tâm chẩn đoán tiền sản cần cải thiện công tác tư vấn để giúp thai phụ hiểu rõ về lợi ích và rủi ro của chọc hút dịch ối. Việc cung cấp thông tin chính xác và hỗ trợ tâm lý sẽ giúp thai phụ đưa ra quyết định sáng suốt.

23/02/2025
Luận văn kiến thức thái độ về sàng lọc chẩn đoán trước sinh và lựa chọn chọc hút dịch ối của các thai phụ 35 tuổi có chỉ định chọc hút dịch ối tại 2 trung tâm chẩn đoán trước sinh ở việt nam năm 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Một nguyện vọng của đại đa số phụ nữ đang mang thai là mong muốn sinh ra đứa con khoẻ mạnh cả về thể chất và trí tuệ; đó là một niềm vui, niềm hạnh phúc của bản thân họ, của cả gia đình và của toàn xã hội. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, vẫn có một tỷ lệ nhất định thai phụ mang thai dị dạng và sinh ra trẻ bị dị tật bẩm sinh (DTBS). Nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới với số liệu từ 25 trung tâm thống kê dị tật bẩm sinh của 16 nước qua 4.718 lần sinh cho thấy tỉ lệ dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh là 1,73%. Theo ước tính, Việt Nam có khoảng 5,3 triệu người khuyết tật, chiếm 6,34% dân số, trong đó tỷ lệ này ở trẻ em dưới 17 tuổi là 3,1%.

Trong nhóm trẻ khuyết tật, các nguyên nhân bẩm sinh chiếm từ 36% - 71%[10]. Nhiều trường hợp trong số đó có thể được đình chỉ thai nghén sớm nếu được phát hiện kịp thời, tránh để sinh ra những trẻ mang dị tật không mong muốn. Vì vậy, sàng lọc và chẩn đoán trước sinh nhằm phát hiện sớm dị tật của thai có vai trò vô cùng quan trọng để hạn chế sự ra đời của trẻ bị bất thường bẩm sinh, nâng cao chất lượng cuộc sống. Chẩn đoán trước sinh (CĐTS) đã được bắt đầu vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước (TK XX).

Tuy nhiên CĐTS thật sự được phát triển mạnh từ khi có siêu âm được ứng dụng vào sản, phụ khoa năm 1967; tiếp đến là phương pháp thu nhận tế bào của thai nhi bằng cách chọc hút nước ối qua đường âm đạo hoặc đường bụng vào năm 1972. Cho tới nay, các kỹ thuật sàng lọc và chẩn đoán trước sinh đã rất phong phú, đa dạng và ngày càng phát triển mạnh mẽ. đã góp phần làm giảm tỷ lệ dị tật bẩm sinh, nâng cao chất lượng dân số. Hiện nay tại Việt Nam có nhiều trung tâm tiến hành sàng lọc và chẩn đoán trước sinh, trong đó có 4 trung tâm CĐTS của 4 bệnh viện thuộc khối trung ương đó là: Bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPSTW), Bệnh viện Đại học y dược Huế (BVĐHYD Huế), Bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Phụ sản Cần Thơ.

Tất cả các trung tâm này cung cấp các dịch vụ sàng lọc trước sinh (SLTS) 2 và CĐTS như: Tư vấn về SLCĐTS, tiến hành các xét nghiệm SLTS từ huyết thanh mẹ (Double test, Triple Test), siêu âm, sàng lọc bệnh tan máu (Thalassemia), các xét nghiệm chẩn đoán thai bằng các phương pháp di truyền tế bào (xét nghiệm NST thai) hay di truyền phân tử với các mẫu bệnh phẩm từ chọc hút dịch ối, sinh thiết gai rau. Ngoài ra có thể tiến hành các xét nghiệm sàng lọc và chẩn đoán tiền phôi[9]. Theo báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu Quốc gia dân số và kế hoạch hoá gia đình giai đoạn 2011 – 2015: Tỷ lệ trẻ em mới sinh bị dị tật bẩm sinh là 2.5%, tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh là 15%[5]. Sau 10 năm thành lập các trung tâm CĐTS đã đóng góp tích cực vào mục tiêu nâng cao chất lượng dân số bên cạnh đó cũng còn tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc trong hoạt động truyền thông đến cộng đồng về CĐTS như tác động, đối tượng đích.

Kiến thức về SLTS và CĐTS chưa được phổ biến rộng rãi đến các thai phụ trước và trong khi mang thai. Có thai phụ không có các kiến thức tối thiểu về SLCĐTS dẫn đến bỏ qua các giai đoạn thực hiện xét nghiệm sàng lọc trước sinh, siêu âm hình thái. Các thai phụ khi tự tìm hiểu thông tin trên mạng có thể đã tiếp nhận được những thông tin không chính xác dẫn đến họ có thể không hiểu hoặc hiểu sai về các phương pháp CĐTS. Điều đó khiến nhiều thai phụ đã từ chối thực hiện những phương pháp CĐTS chấp nhận nguy cơ sinh con bị DTBS.

Chính vì vậy nâng cao kiến thức về SLCĐTS cho các thai phụ nhằm làm thay đổi thái độ, hành vi của họ về sàng lọc và chẩn đoán trước sinh là điều cần thiết. Câu hỏi được đặt ra là liệu kiến thức của phụ nữ mang thai về SLTS và CĐTS ra sao? Thái độ của họ về sàng lọc và chẩn đoán trước sinh ra sao? Các yếu tố liên quan tới quyết định chọc hút dịch ối khi thai nhi nghi ngờ bị DTBS của các thai phụ như thế nào? Do đó việc xác định các yếu tố liên quan đến quyết định thực hiện chẩn đoán trước sinh của phụ nữ mang thai có thai nghi ngờ bị dị tật bẩm sinh bao gồm: Yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình-xã hội, yếu tố cung cấp dịch vụ y tế và công tác tư vấn là điều rất quan trọng và cần thiết. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Kiến thức, thái độ về sàng lọc, chẩn đoán trƣớc sinh và lựa chọn chọc hút dịch ối của các thai phụ ≥ 35 tuổi có chỉ định chọc hút dịch ối tại 2 trung tâm chẩn đoán trƣớc sinh ở Việt Nam năm 2016” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức và thái độ của phụ nữ mang thai ≥ 35 tuổi có chỉ định chọc hut dịch ối về sàng lọc và chẩn đoán trước sinh tại 2 trung tâm khu vực chẩn đoán trước sinh Việt Nam năm 2016 2.

Xác định các yếu tố liên quan đến lựa chọn thực hiện chọc hút dịch ối ở phụ nữ mang thai ≥ 35 tuổi có chỉ định chọc hút dịch ối đến khám tại 2 trung tâm năm 2016. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm trong đề tài nghiên cứu 1. Các khái niệm Sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh để phát hiện, can thiệp và điều trị sớm các bệnh, tật, các rối loạn chuyển hóa, di truyền ngay trong giai đoạn bào thai và sơ sinh giúp cho trẻ sinh ra phát triển bình thường hoặc tránh được những hậu quả nặng nề về thể chất và trí tuệ, giảm thiểu số người tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Sàng lọc trƣớc sinh: Là việc sử dụng các biện pháp thăm dò đơn giản, dễ áp dụng, có độ chính xác tương đối cao để phát hiện các cá thể trong một cộng đồng nhất định có nguy cơ cao hoặc có thể sẽ mắc một bệnh lý nào đó. Sàng lọc trước sinh được tiến hành trong thời gian mang thai[1]. Chẩn đoán trƣớc sinh: Là việc sử dụng các biện pháp thăm dò đặc hiệu được tiến hành trong thời gian mang thai để chẩn đoán xác định những trường hợp nghi ngờ mắc bệnh thông qua việc sàng lọc[1]. Bất thƣờng nhiễm sắc thể: Là sự bất thường về số lượng hoặc cấu trúc của một hoặc nhiều nhiễm sắc thể[1].

Dị tật bẩm sinh: Là sự khiếm khuyết của cơ thể trong thời kỳ bào thai do yếu tố di truyền hoặc không di truyền[1]. Đối tượng được sàng lọc và chẩn đoán trước sinh Theo quyết định số 573 QĐ-BYT quy trình sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh[1]. Đối tượng được sàng lọc bao gồm tất cả các thai phụ đến thăm khám tại các cơ sở sản khoa. Đối tượng để chẩn đoán trước sinh bao gồm: - Chú trọng những đối tượng sau: - Thai nhi có dấu hiệu nghi ngờ bất thường về hình thái, cấu trúc trên siêu âm.

5 - Kết quả sàng lọc ở huyết thanh mẹ thuộc nhóm thai có nguy cơ cao cho bất thường di truyền. - Phụ nữ mang thai từ 35 tuổi trở lên; - Thai phụ có tiền sử bị sảy thai tự nhiên, thai chết lưu hoặc có con chết sớm sau sinh. - Tiền sử gia đình thai phụ hoặc chồng đã có người được xác định bị bất thường nhiễm sắc thể như hội chứng Down, Edward, Patau, Turner… hoặc mắc các bệnh di truyền như: Thalassemia, tăng sản thượng thận bẩm sinh, loạn dưỡng cơ Duchenne, teo cơ tủy,… - Cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống. - Thai phụ nhiễm vi-rút Rubella, Herpes, Cytomegalovirus… - Thai phụ sử dụng thuốc độc hại cho thai nhi hoặc tiếp xúc thường xuyên với môi trường độc hại.

Quy trình sàng lọc và chẩn đoán trƣớc sinh Thai phụ đến trung tâm CĐTS sẽ được tiếp nhận và tư vấn về sàng lọc và chẩn đoán trước sinh để thai phụ hiểu được lợi ích và tự nguyện tham gia sàng lọc, chẩn đoán trước sinh. Đánh giá được nguy cơ thai nhi mắc hội chứng Down (3 6 nhiễm sắc thể 21), các bất thường nhiễm sắc thể khác, một số dị tật bẩm sinh và bệnh lý di truyền đơn gen khác. + Trường hợp thai nhi không có bất thường và xét nghiệm SLTS nguy cơ thấp cần tư vấn, giải thích động viên cho thai phụ tiếp tục khám, theo dõi thai nghén định kỳ chuyển khám thai. + Trường hợp thai nhi có bất thường hoặc xét nghiệm SLTS nguy cơ cao, cần phải tư vấn cho thai phụ và gia đình về nguy cơ và lựa chọn phương pháp can thiệp phù hợp siêu âm hội chẩn, hội chẩn liên viện và cuối cùng là chọc hút dịch ối làm xét nghiệm di truyền (xét nghiệm NST hay xét nghiệm phân tử cho thai).

+ Với những trường hợp mẹ có yếu tố nguy cơ khác kèm theo (mẹ bị viêm gan B, tăng huyết áp…) cần chuyển khám hội chẩn chuyên khoa trước khi tư vấn chọc ối. Thai phụ có thai nghi ngờ bất thường NST hoặc bất thường gen sẽ được tư vấn chọc hút dịch ối để chẩn đoán bất thường di truyền. Sau khi có kết quả sẽ được tư vấn di truyền: + Nếu thai có NST bình thường hoặc xét nghiệm gen bình thường và không có bất thường hình thái thai được tư vấn giữ thai và chuyển khám thai theo dõi thai định kỳ bằng siêu âm thai. Hoặc nếu thai có kết quả NST bình thường hoặc xét nghiệm gen bình thường nhưng có một số DTBS có thể phẫu thuật can thiệp (sứt môi, hở van tim…) sẽ được tư vấn lên kế hoạch dự phòng xử lý can thiệp sau sinh.

+ Nếu thai có NST bất thường, hoặc thai nhi có bệnh lý về gen hoặc siêu âm thai có bất thường lớn về hình thái, cấu trúc thai nhi mà không có phương pháp điều trị đặc hiệu sẽ được tư vấn về tình trạng của thai, gia đình sẽ đưa ra quyết định dừng thai kỳ hay tiếp tục thai kỳ. Chi tiết quy trình sàng lọc và chẩn đoán trước sinh được trình bày ở phụ lục 4. Các phƣơng pháp sàng lọc và chẩn đoán trƣớc sinh 1. Các phương pháp sàng lọc trước sinh Có 3 phương pháp sàng lọc trước sinh: Sàng lọc lâm sàng chủ yếu dựa vào tuổi thai phụ và tiền sử bất thường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Kiến thức và thái độ về sàng lọc trước sinh và chọc hút dịch ối ở thai phụ 35 tuổi tại Việt Nam 2016" cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhận thức và thái độ của thai phụ trong độ tuổi 35 đối với các phương pháp sàng lọc trước sinh. Nghiên cứu này không chỉ nêu bật tầm quan trọng của việc sàng lọc để phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh mà còn chỉ ra những rào cản mà thai phụ có thể gặp phải trong quá trình tiếp cận dịch vụ y tế. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về cách nâng cao nhận thức và cải thiện thái độ của thai phụ đối với các biện pháp y tế này, từ đó góp phần vào việc chăm sóc sức khỏe sinh sản tốt hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn kiến thức thái độ và thực hành của phụ nữ mang thai về dự phòng dị tật bẩm sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp năm 2021", nơi cung cấp thông tin về thái độ và thực hành của phụ nữ mang thai trong việc phòng ngừa dị tật bẩm sinh.

Ngoài ra, tài liệu "Luận văn tốt nghiệp khảo sát kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại bệnh viện phụ sản Hà Nội năm 2021 và các yếu tố liên quan" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc sử dụng thuốc trong thai kỳ và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của thai phụ.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý đái tháo đường thai kỳ tại bệnh viện quốc tế Mỹ từ tháng 3 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022", tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý sức khỏe thai kỳ, đặc biệt là trong bối cảnh đái tháo đường thai kỳ.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về sức khỏe sinh sản và các vấn đề liên quan.