CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1. Cho vay doanh nghiệp Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp Khái niệm doanh nghiệp: Theo Luật doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký thành lập theo qui định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của Nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.
Đặc điểm doanh nghiệp: Trong quan hệ tín dụng với NHTM thì khách hàng DN có các đặc điểm sau: • Khách hàng doanh nghiệp là đối tượng khách hàng thường chiếm số lượng ít hơn khách hàng cá nhân nhưng doanh số giao dịch thường rất lớn. • Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nên mục đích vay vốn là đáp ứng nhu cầu kinh doanh. Nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh bao gồm vay vốn lưu động và đầu tư tài sản cố định như máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất… thường có giá trị lớn. • Hoạt động sản xuất kinh doanh của DN với nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
8 • DN hoạt động theo quy định của pháp luật với nhiều điều kiện ràng buộc; do đó, đòi hỏi các hoạt động phải được phải được theo dõi, ghi chép đầy đủ, rõ ràng. • Vì có quy mô lớn nên DN có thế mạnh về tài chính, sức cạnh tranh và có khả năng tiếp cận với công nghệ hiện đại. • Năng lực, trình độ quản lý, điều hành; thông tin trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định rõ ràng và khá chặt chẽ: Để DN được thành lập và đi vào hoạt động phải đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về năng lực chuyên môn; về vốn; cơ sở vật chất, kỹ thuật…Người quản lý, điều hành DN đòi hỏi phải có bằng cấp, được đào tạo bài bản. Khái niệm cho vay doanh nghiệp của NHTM Khái niệm cho vay của NHTM Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010, Cho vay là một hình thức cấp tín dụng của NHTM, theo đó TCTD giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi.
Đây là một trong những nghiệp vụ của NHTM. Khái niệm cho vay DN của NHTM Cho vay doanh nghiệp là việc thỏa thuận giữa NHTM và doanh nghiệp, theo đó NHTM giao cho doanh nghiệp sử dụng một khoản tiền với mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp Số lượng món vay thường ít hơn khách hàng cá nhân nhưng quy mô các khoản vay thường lớn: Doanh nghiệp là đối tượng được quan tâm hàng đầu tại các NHTM, những khoản vay của DN thường là những món vay lớn và dư nợ cho vay DN chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ cho vay của NHTM. Do đó, cho vay khách hàng DN giúp NHTM tiết kiệm được chi phí trong hoạt động cho vay dựa vào lợi thế về quy mô giao dịch.
9 Hồ sơ pháp lý của DN rõ ràng nên NHTM không quá khó trong việc đánh giá tư cách pháp lý của DN và những người liên quan. Thông tin về tình hình tài chính của DN được thể hiện thông qua báo cáo tài chính, qua đó giúp cho NHTM dễ dàng giám sát được hoạt động của DN vay vốn. Quản lý khách hàng doanh nghiệp khá phức tạp, đặc biệt những DN có quy mô càng lớn thì mức độ phức tạp càng cao; do vậy, đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải nắm vững chuyên môn, am hiểu nhiều lĩnh vực khi cho vay khách hàng DN. Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động kinh doanh, NHTM phải đối diện với nhiều loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản… Tuy nhiên, RRTD là rủi ro có tác động lớn nhất đến mục tiêu kinh doanh của NHTM, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động ngân hàng vì tín dụng là hoạt động thường xuyên và chủ yếu của NHTM, nó mang lại khoảng 70-80%, thậm chí là 90% thu nhập của ngân hàng.
Vì vậy, khi có RRTD xảy ra thì hậu quả để lại rất lớn. Vậy, RRTD là gì? Theo Khoản 1, Điều 3 của Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của NHNN Việt Nam: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận (sau đây gọi chung là thỏa thuận) với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Theo Ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh tổn thất kinh tế do khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết”. Có nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD nhưng khái quát lại chúng ta có thể rút ra những nội dung cơ bản của RRTD như sau: RRTD xảy ra khi người vay sai hẹn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm gốc và/hoặc lãi.
Sự sai hẹn ở đây có thể là trễ hẹn 10 hoặc không thanh toán do các nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. RRTD dẫn đến tổn thất về mặt tài chính, làm giảm thu nhập ròng của NHTM. Đối với các NHTM mà tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu thì RRTD sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến thua lỗ hoặc phá sản. Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp Rủi ro tín dụng có các đặc điểm sau: Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quá trình quan hệ tín dụng thì DN được ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định, những thất thoát hay thiệt hại về vốn của ngân hàng xảy ra chủ yếu là do những khó khăn, thất bại trong hoạt động kinh doanh từ phía khách hàng.
Vì vậy, có thể nói rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu và gián tiếp gây ra RRTD cho các NHTM. Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu: RRTD luôn gắn liền, không thể tách rời với hoạt động tín dụng của NHTM. Những món vay trong cho vay khách hàng DN thường là những món vay lớn, việc theo dõi và nắm bắt đầy đủ, kịp thời các thông tin về quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng là vô cùng khó khăn. Trong mối quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng thì một bên thường không biết tất cả những gì mà họ cần biết về bên kia, vì vậy tình trạng thông tin bất đối xứng luôn tồn tại, làm cho các ngân hàng khó đưa ra những quyết định đúng đắn nên bất kỳ khoản vay nào cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro.
Do đó, các NHTM cần đánh giá các khoản vay để tìm kiếm cơ hội về lợi ích tương ứng với rủi ro có thể chấp nhận được. Rủi ro tín dụng có tính đa dạng và phức tạp: Khách hàng DN hoạt động sản xuất kinh doanh ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề đa dạng và phức tạp. Vì vậy, RRTD cũng xuất phát từ nhiều nguyên nhân với hình thức biểu hiện và hậu quả cũng rất đa dạng. Đây là đặc điểm tất yếu của RRTD trong cho vay khách hàng DN.
11 Ngoài ra, xuất phát từ đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp là có quy mô lớn, những khoản vay của khách hàng DN thường lớn nên khi có RRTD trong cho vay doanh nghiệp xảy ra thì mức độ thiệt hại thường rất lớn. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng ❖ Nguyên nhân thuộc về ngân hàng Do chính sách tín dụng không chặt chẽ, không rõ ràng làm cho hoạt động tín dụng sai lệch, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, làm cho khách hàng lợi dụng khe hở để có những hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng và các quy định của pháp luật. Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ. Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về năng lực và phẩm chất đạo đức.
Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác nên mức vay, lãi suất vay và kỳ hạn không phù hợp; coi nhẹ khâu kiểm tra tình hình tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và tương lai, khả năng trả nợ dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao. Ngoài ra, nếu cán bộ tín dụng không tuân thủ theo đúng quy trình tín dụng như giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ hay không kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn của người vay, thì việc mất vốn rất dễ xảy ra. Hơn nữa, cán bộ tín dụng mà phẩm chất đạo đức kém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà bỏ qua những điều kiện và thủ tục cần thiết. Ngân hàng quá chú trọng về lợi tức, đặt mong muốn về lợi tức cao hơn các khoản cho vay lành mạnh, do vậy rủi ro của khoản vay càng cao.
Sự cạnh tranh không lành mạnh với các ngân hàng khác để mong muốn có tỷ trọng cho vay nhiều hơn. Cạnh tranh không lành mạnh ở đây có thể hiểu rằng ngân hàng đã bỏ qua một số bước kiểm định các khoản cho vay, hạ thấp 12 tiêu chuẩn tín dụng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. nhằm lôi kéo khách hàng. Thiếu giám sát và quản lý sau cho vay.
Thông thường các ngân hàng tập trung nhiều cho việc kiểm tra trước khi cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm tra, giám sát sau cho vay. Sau khi giải ngân, cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp tục theo dõi khách hàng để sớm phát hiện ra dấu hiệu của những khoản nợ có vấn đề. Tuy nhiên, việc theo dõi này đối với nhiều cán bộ chỉ mang tính hình thức.