CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM 1. Hoạt động cho vay và rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay a. Hoạt động cho vay Tại Việt Nam theo định nghĩa tại điều 3 quyết định 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc ngân hàng về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và theo điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Quốc hội thì cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Định nghĩa trên được các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình. Rủi ro Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro và lợi nhuận là hai khái niệm có tính song hành với nhau. Khi tiến hành mọi hoạt động kinh doanh doanh nghiệp hay cá nhân kinh doanh luôn phải đứng trước sự cân nhắc, dung hòa hoặc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận, bất cứ hoạt động đem lại lợi nhuận nào đều hàm chứa rủi ro đi kèm, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn. Khái niệm rủi ro thường bao gồm hai yếu tố: khả năng xảy ra rủi ro và hậu quả nếu rủi ro xảy ra.
Tùy thuộc vào những ứng dụng đặc thù, tùy thuộc cách tiếp cận định tính, định lượng, hay cách tiếp cận tiêu cực tích cực dẫn 12 đến có nhiều định nghĩa về rủi ro. Chẳng hạn, tác giả Allan Willett cho rằng rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi. Diễn giải một cách cụ thể hơn, các tác giả C. Arthur William, Jr.
Smith (1997) trong cuốn Risk management and insurance có viết rủi ro là sự biến động tiềm ẩn của các kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người. Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro là sự bất định.
Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất mà không thể đoán định trước. Cũng có quan điểm cho rằng rủi ro là mức thiệt hại có thể bị gánh chịu do hậu quả của một sự kiện nhất định và khả năng xảy ra các sự kiện đó. Dù là định nghĩa hay cách tiếp cận nào thì nhận định chung rủi ro có hai thuộc tính cơ bản là sự bất định và nguy cơ đối diện với một hậu quả bất lợi. Rủi ro tín dụng Theo Thomas P.
Fitch, tác giả cuốn ừ điển thuật ngữ ngân hàng do nhà xuất bản Barron phát hành năm 1997 [Dictionary of banking terms, Barron's Edutional, Inc, 1997], cho rằng rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Koch, tác giả quyển Quản trị ngân hàng do nhà xuất bản Dryden-Đại học tổng hợp Nam Carolina xuất bản năm 1995 [Bank management, University of South Carolina, The Dryden, 1995, page 107]: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn.
13 Theo Ủy ban Basel rủi ro tín dụng đơn giản nhất được định nghĩa là khả năng mà một khách hàng vay ngân hàng hoặc đối tác sẽ không đáp ứng được các nghĩa vụ của mình phù hợp với các điều khoản đã thoả thuận. Theo Điều 3“Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” ban hành kèm theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN: Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Rủi ro tín dụng nếu hiểu theo nghĩa xác suất, là khả năng xảy ra, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất; Một ngân hàng mặc dù có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng cao nếu tập trung đầu tư vào một nhóm khách hàng hay một loại ngành nghề.
Cách hiểu này giúp cho các ngân hàng chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro. Tùy cách diễn giải dẫn đến có nhiều cách khác nhau để định nghĩa rủi ro tín dụng, nhưng chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng xuất hiện khi người đi vay sai hẹn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất về tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn.
Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. Đứng trên góc độ quản lý, rủi ro tín dụng là điều không 14 thể tránh khỏi, luôn tồn tại song hành cùng hoạt động kinh doanh của ngân hàng và chỉ có thể phòng tránh, hạn chế chứ không thể loại trừ. Phân loại rủi ro tín dụng Tùy theo từng mục đích và yêu cầu nghiên cứu, rủi ro tín dụng được phân loại theo các tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Chia ra các loại rủi ro sau: - Rủi ro giao dịch: Là rủi ro phát sinh do những sai sót, hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Loại rủi ro này được chia thành ba loại rủi ro sau xuất phát từ nguyên nhân phát sinh: + Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá, phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn các phương án để quyết định cho vay. + Rủi ro đảm bảo: Là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản bảo đảm. + Rủi ro nghiệp vụ: Liên quan liên quan đến công tác quản lý khoản cho vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung: + Rủi ro nội tại: Là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính đặc thù bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. + Rủi ro tập trung: Là loại rủi ro tín dụng phát sinh khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng; cho vay quá nhiều 15 doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng của rủi ro tín dụng Phân loại thành rủi ro đặc thù và rủi ro hệ thống: - Rủi ro đặc thù: Là rủi ro tín dụng của một người vay cụ thể phát sinh cho những kiểu đặc thù của rủi ro dự án mà người vay thực hiện. - Rủi ro hệ thống: Rủi ro tín dụng phát sinh do bối cảnh chung của nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ các người vay, chẳng hạn như suy thoái, khủng hoảng kinh tế… 1.
Đặc điểm và các dấu hiệu của rủi ro tín dụng a. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng rủi ro và khả năng sinh lời luôn đi đôi với nhau. Bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro nhất định cho ngân hàng, do ngân hàng không thể có được thông tin một cách kịp thời và đầy đủ về việc sử dụng vốn vay của khách hàng như chính bản thân khách hàng vay. Đây cũng là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế cũng như các NHTM đều cho rằng kinh doanh ngân hàng là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp để đạt được lợi nhuận mong muốn.
Rủi ro tín dụng có tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn hoặc một cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng theo các điều khoản của hợp đồng hai bên đã ký kết. Do đó rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp tổn thất và không thực hiện những cam kết đã ký. Hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng đã gián tiếp dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự phức tạp của nguyên nhân, hình thức và hậu quả của rủi ro tín dụng.
Đặc 16 điểm này cũng được coi là hệ quả của đặc điểm thứ 2, vì mối liên hệ gián tiếp của rủi ro tín dụng khiến cho tính đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng càng rõ nét. Dấu hiệu nhận diện rủi ro tín dụng Việc nhận biết sớm các biểu hiện của rủi ro tín dụng là vô cùng quan trọng, nó giúp cho các ngân hàng có thể ngăn chặn hoặc giảm thiểu mức độ rủi ro.