Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại. Chương 2: Thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại Chi nhánh Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á Kon Tum Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại Chi nhánh Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á Kon Tum 8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Kiểm soát RRTD trong cho vay hộ kinh doanh là một trong bốn nội 4 dung của công tác quản trị RRTD đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu trƣớc đây trong các đề tài quản trị rủi ro tín dụng và hạn chế RRTD tại các ngân hàng thƣơng mại, cụ thể: Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Quân đội Chi nhánh Đắk Lắk” của tác giả Nguyễn Thị Mai Quyên (năm 2015) đã tìm ra các ƣu, nhƣợc điểm và những khó khăn vƣớng mắc trong việc thực hiện kiểm soát tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội Chi nhánh Đắk Lắk. Tuy nhiên tác giả chƣa làm rõ đƣợc hậu quả của rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh.
Qua luận văn tôi hiểu thêm về kiểm soát rủi ro tín dụng và các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng. Đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuấn Anh (2015): “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn EAKPAM, ĐăkLăk”. Đề tài này, tôi có thể tham khảo những cơ sở lý luận, quy trình, tiêu chí đánh giá trong công tác kiểm soát RRTD. Tuy nhiên đề tài này chƣa đi sâu vào số HKD cho vay cơ cấu theo địa bàn, theo quy mô cụ thể nên tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ nội dung trên.
Luận văn cao học – Đại học Đà Nẵng của tác giả Lê Hòa Tân: “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Á Chi nhánh Nha Trang”, thực hiện năm 2012. Luận văn này tác giả đã làm rõ đƣợc khái niệm rủi ro tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng và các chỉ tiêu đo lƣờng rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại. Tuy nhiên, đề tài chƣa làm rõ đƣợc nội dung hạn chế rủi ro tín dụng, các tiêu chí đánh giá kết quả hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay và các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay của Ngân hàng thƣơng mại. Qua luận văn này, tôi đã hiểu rõ thêm về các khái niệm rủi ro tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng, các nhân tố 5 ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng và hệ thống các tiêu chí phản ánh hạn chế rủi ro tín dụng.
Luận văn thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng “Hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay sản xuất kinh doanh cá nhân, hộ gia đình tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Bình Định” của tác giả Lê Thị Cẩm Tú năm 2014. Luận văn này đã khái quát hóa cơ sở lý thuyết cơ bản về hoạt động cho vay của NHTM, rủi ro tín dụng trong cho vay Hộ kinh doanh cũng nhƣ những nguyên nhân phát sinh và hạn chế rủi ro tín dụng. Tác giả đã đi sâu vào phân tích, lý giải thực trạng công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại VietinBank Bình Định. Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác hạn chế rủi ro trong cho vay hộ kinh doanh tại VietinBank, luận văn còn đề xuất một số giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm hạn chế phát sinh nợ xấu, nâng cao chất lƣợng tín dụng của Chi nhánh trong thời gian tới.
Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum” của tác giả Đỗ Vinh Hân (năm 2011) đã nghiên cứu và đƣa nhiều biện pháp kiểm soát RRTD cũng nhƣ phân tích đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng, các giải pháp hoàn thiện kiểm soát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh KonTum. Tuy nhiên hạn chế của tác giả là chƣa đƣa ra các biện pháp né tránh RRTD. Luận văn này đã bổ sung thêm các lý luận về kiểm soát RRTD của tác giả Đỗ Vinh Hân đồng thời các giải pháp mà tác giả đƣa ra đƣợc luận văn này nghiên cứu kế thừa và phát triển cho phù hợp với thực tiễn khách hàng hộ kinh doanh trên địa bàn. Từ các đề tài trên, tôi nhận thấy điểm chung của các đề tài là đều sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu thống kê, so sánh để đánh giá thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng tại các NHTM, các địa phƣơng khác nhau và là cơ sở quan trọng cho đề tài này kế thừa.
Tuy nhiên các nội dung này vẫn còn 6 chung chung. Điểm khác biệt của đề tài “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Kon Tum” là đƣợc hệ thống hóa các cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và nghiên cứu làm rõ nội dung kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh. Bên cạnh đó đề tài này đƣa ra các yêu cầu triển khai các biện pháp rủi ro tín dụng tại NHTM, đồng thời đƣa ra các tiêu chí đánh giá kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh. Đề tài đi sâu vào việc phân tích thực trạng để từ đó đánh giá, rút ra đƣợc những khó khăn, thuận thời và nguyên nhân hạn chế đối với kiểm soát RRTD trong cho vay HKD tại Chi nhánh.
Trên cơ sở đó, đƣa ra các giải pháp thích hợp nhằm làm tốt hơn công tác kiểm soát RRTD trong cho vay HKD tại đơn vị. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm hộ kinh doanh a.
Khái niệm hộ kinh doanh. Thời kỳ trƣớc năm 1988, hệ thống Ngân hàng Việt Nam chỉ tập trung cho vay thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, chƣa cho phép các thành phần kinh tế khác phát triển nhƣ hiện nay. Chỉ từ khi thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ chính trị, việc ban hành luật đất đai năm 1993 cùng với sự đổi mới về cơ cấu tổ chức, thay đổi đối tƣợng khách hàng của Hệ thống Ngân hàng, tỷ trọng cho vay các thành phần kinh tế khác nhau bắt đầu thay đổi trong đó có cho vay hộ kinh doanh tăng dần lên và hộ kinh doanh đã giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Bên cạnh đó khái niệm hộ kinh doanh đƣợc chính thức xuất hiện trong pháp luật bằng Nghị định số 27-HĐBT ngày 09/3/1988, ban hành Bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tƣ doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải.
Các đơn vị kinh tế này đƣợc tổ chức hoạt động theo nhiều hình thức nhƣ: hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp và xí nghiệp tƣ doanh. Nhƣ vậy, có thể hiểu hộ cá thể chính là cá nhân kinh doanh, thƣơng nhân, thể nhân tiến hành hoạt động kinh doanh cho chính mình. Dấu ấn gia đình, quan niệm về các thành phần kinh tế trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung vẫn còn khá đậm nét. Hiện nay, khó có thể đƣa ra một định nghĩa thỏa đáng về hộ kinh doanh 8 và khó có thể nói hộ kinh doanh mang bản chất là cá nhân kinh doanh, thƣơng nhân đơn lẻ hay thƣơng nhân thể nhân.
Có quan điểm cho rằng hộ kinh doanh hay hộ kinh doanh cá thể là cá nhân kinh doanh hay thƣơng nhân đơn lẻ. Tuy nhiên, khái niệm về hộ kinh doanh vẫn chƣa đƣợc định nghĩa cụ thể, hầu hết đều mặc nhiên thừa nhận hộ kinh doanh là hộ gia đình hay kinh tế hộ. Theo Điều 49, Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/10/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, theo đó hộ kinh doanh đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Đặc điểm hộ kinh doanh Từ khái niệm của HKD, ta có thể nhận thấy HKD có các đặc điểm chủ yếu sau: - Chủ hộ kinh doanh có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình: đối với hộ kinh doanh, pháp luật không quy định các điều kiện cụ thể về quy định thành lập, bất kỳ một cá nhân là công dân Việt Nam, có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và hành vi dân sự đều có thể đứng ra kinh doanh, ngoài ra một hộ gia đình hoặc một cá nhân đại diện cho gia đình cũng có thể thành lập HKD.
- Sử dụng không quá 10 lao động: Quy mô kinh doanh của hộ gia đình thƣờng không lớn do đó hộ kinh doanh đa phần tập trung ở các nghành nghề nhỏ lẻ, yêu cầu về trang thiết bị kỹ thuật thấp, vốn đầu tƣ ban đầu không lớn, do đó nhu cầu về lao động chỉ ở mức vừa phải. - Không có tƣ cách pháp nhân, không có con dấu riêng: hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập có bản chất là cá nhân kinh doanh, do đó không thể là pháp nhân. Nó khác với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bởi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một thực thể 9 tách biệt với chủ sở hữu của nó. Trong khi đó hộ kinh doanh không phải là một thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nên nó.
Mọi tài sản trong của hộ kinh doanh đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh hƣởng toàn bộ lợi nhuận (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo qui định của pháp luật) và gánh chịu mọi nghĩa vụ. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ án liên quan tới hoạt động của hộ kinh doanh - Chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh: HKD không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó.