CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP 1. Khái quát hoạt động cho vay ngân hàng thương mại a. Khái niệm về cho vay Để tìm hiểu khái niệm cho vay trước hết phải hiểu được khái niệm tín dụng ngân hàng là gì? Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả cả gốc và lãi theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Bản chất của tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng. - Sự chuyển nhượng nầy có thời hạn hay mang tính tạm thời. - Sự chuyển nhượng nầy có kèm theo chi phí.
Hoạt động tín dụng ngân hàng hay còn gọi là hoạt động cấp tín dụng là các quan hệ tín dụng trong đó Ngân hàng thực hiện cấp tín dụng cho các khách hàng của mình dưới các hình thức khác nhau trong khuôn khổ các quy định của pháp luật hiện hành. Theo điều 4 Luật các TCTD ngày 16 tháng 06 năm 2010 thì: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam Luan van 9 kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Phân loại cho vay Trong nền kinh tế thị trường hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại rất đa dạng và phong phú với nhiều loại hình tín dụng khác nhau.
Việc áp dụng hình thức cho vay nào là tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý vốn tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng. Trên thực tế việc phân loại cho vay theo các tiêu thức sau: - Căn cứ thời hạn cho vay Ngân hàng xem xét quyết định cho khách vay theo các thể loại ngắn hạn, trung hạn, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phát triển: Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn vay đến 12 tháng, mục đích bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp hoặc các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân trong nền kinh tế. Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng, mục đích chủ yếu là sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh. Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng trở lên, mục đích để tài trợ cho các công trình, dự án lớn có thời hạn sử dụng lâu dài.
Luan van 10 Việc phân chia các khoản vay theo thời hạn như trên có ý nghĩa quan trọng đối với các ngân hàng trong việc quản lý tính an toàn và sinh lợi của tài sản. - Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm tiền vay như thế chấp, cầm cố tài sản hợp pháp của khách hàng, hoặc phải có sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Sự bảo đảm nầy là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu thứ hai trong trường hợp khách hàng không thanh toán được nợ vay thông qua phát mãi tài sản khách hàng đã thế chấp, cầm cố tại ngân hàng. Cho vay bảo đảm không bằng tài sản là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố mà việc cho vay của ngân hàng chỉ dựa vào uy tín và năng lực của bản thân khách hàng vay vốn.
Khách hàng vay vốn không có bảo đảm bằng tài sản phải có các điều kiện sau: + Có tín nhiệm đối với ngân hàng cho vay trong việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi. + Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật. + Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn. - Căn cứ theo phương thức cho vay Ngân hàng thỏa thuận với khách hàng việc áp dụng các phương thức cho vay sau đây: Cho vay từng lần (cho vay theo món): Phương thức nầy áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu và đề nghị vay vốn từng lần, có quan hệ không thường xuyên với Ngân hàng, có nguồn thu không ổn định; việc vay vốn của khách hàng chỉ mang tính thời vụ hay mở rộng sản xuất như cho vay bù đắp thiếu hụt tài chính tạm thời, cho vay hỗ trợ triển khai các đề tài nghiên cứu Luan van 11 khoa học, công nghệ….Khách hàng có thể đề nghị được giải ngân một lần hay nhiều lần căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn thực tế song tổng số tiền giải ngân không vượt quá số tiền cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng đối với các khách hàng có sản xuất kinh doanh ổn định, có hiệu quả và có quan hệ tín dụng thường xuyên với Ngân hàng. Hạn mức cho vay đối với khách hàng được tính toán trên cơ sở nhu cầu vốn thực tế của khách hàng. Để đảm bảo duy trì sản xuất kinh doanh ổn định, hàng năm hoặc theo nhu cầu mở rộng, thu hẹp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của khách hàng, điều kiện vay vốn của khách hàng, Ngân hàng cùng khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Cho vay theo dự án đầu tư: Phương thức nầy áp dụng đối với các khách hàng vay vốn đủ điều kiện theo quy định để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
Theo đề nghị của khách hàng, Ngân hàng sẽ giải ngân vốn một hoặc nhiều lần theo hợp đồng tín dụng đã ký kết phù hợp với yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng trong thời hạn giải ngân đã thỏa thuận. Tổng số tiền giải ngân không vượt quá số tiền cho vay của ngân hàng. Cho vay trả góp: Theo phương thức cho vay nầy, tổng số tiền cho vay thực tế không vượt quá số tiền cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, số tiền vay được trả nợ thành nhiều kỳ hạn đều nhau với tổng số tiền trả nợ gốc và lãi của mỗi kỳ hạn là bằng nhau, trong đó Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Cho vay hợp vốn: Ngân hàng cho vay cùng với một số tổ chức tín dụng, hoặc chi nhánh của tổ chức tín dụng khác thực hiện việc cho vay một Luan van 12 hoặc một phần dự án, phương án, trong đó ngân hàng cho vay có thể là tổ chức đầu mối hoặc là thành viên cho vay hợp vốn.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt tại các Ngân hàng. Cho vay theo hạn mức thấu chi: Ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng được chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng tại Ngân hàng trong khoảng thời gian nhất định, phù hợp với các quy định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Các phương thức cho vay khác: Ngoài các phương thức cho vay nêu trên, Ngân hàng cho khách hàng vay vốn theo các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và điều kiện hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và đặc điểm của từng loại khách hàng vay. Rủi ro tín dụng trong cho vay của Ngân hàng thương mại a.
Khái niệm rủi ro tín dụng Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cho vay và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ. Một cách định nghĩa khác, các tổn thất thực tế do hậu quả của rủi ro tín dụng không chỉ là sự giảm sút trong lợi nhuận và giá trị sổ sách mà cả sự Luan van 13 giảm sút trong giá trị thị trường của các tài sản đầu tư trong danh mục cấp tín dụng: Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn.